Mở đầu Phần II: Nội dung + Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Xây dựng và vận dụng hệ thống học liệu trong dạy học chủ đề thực vật và động vật – Khoa học 4 tiểu học Phần III: Kết luận và kiến nghị 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số nghiên cứu về học liệu lực Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về chất lƣợng giáo dục của con ngƣời ngày càng tăng cao.
Xuất phát từ nhu cầu đó, các nhà khoa học không ngừng cho ra đời những công trình nghiêm cứu chất lƣợng phục vụ dạy học. Một trong số đó là những nghiên cứu về hệ thống học liệu. Theo tìm hiểu của tôi, học liệu có thể đƣợc chia thành: Học liệu điện tử và học liệu thủ công. Năm 1997, Peter Seldin lần đầu tiên công bố cuốn sách: “The Teaching Portfolio: A Practical Guideto Improved Permance and Promotion/Tenure Decisions”.
Tác phẩm định nghĩa HSDH là “một bản ghi thể hiện khảnăng trong giảng dạy, là một mẫu giống nhƣ một số hồ sơ của một nghệ sĩ hay kĩ sƣ, HSDH chứa đựng những chứng cứ để chứng minh khả năng giảng dạy của GV trong trƣờng, trong đó nó bao gồm hệ thống tài liệu và đồ dùng dạy học đƣợc thu thập để chỉ ra chuyên môn và chất lƣợng của một GV thành công…”.[10] Hay các nhà giáo dục ở Tây bắc Thái Bình Dƣơng thuộc hiệp hội Northwest Evaluation Association (1990) cũng định nghĩa nhƣ sau: “Một hồ sơ là một bộ sƣu tập có mục đích của ngƣời học nhằm triển lãm những nỗ lực, tiến bộ và thành tựu trong một hoặc nhiều lĩnh vực của họ”.[11] Từ những thập niên 90 của thế kỉ XX, có nhiều công trình nghiên cứu về HSDHĐT đƣợc thực hiện, tiêu biểu là công trình “The Digital Portfolio, A Richer Picture of Student Performance”, Coalition of Essential Schools, October 1993 của Niguidul [12] ; công trình nghiên cứu của tiến sĩ Helen Barrett chỉ ra rằng: “Hồ sơ điện tử sử dụng công nghệ điện tử,cho phép những ngƣời xây dựng hồ sơ thu thập và tổ chức các sản phẩm dƣới dạng nhiều loại phƣơng tiện truyền thông (âm thanh, video, đồ họa, văn bản)”, Alaska Anchorage University: Electronic Portfolio Development (2000), Electronic Teaching Portfolios;. Trong cuốn sách : “Phƣơng tiện dạy học Tự nhiên xã hội ở Tiểu học” (năm 2013), tác giả Ngô Hải Chi, 11 Trần Thị Hà Giang nói rõ: “Phƣơng tiện dạy học hỗ trợ hoạt động của giáo viên và học sinh ở tất cả các pha của tiến trình giải quyết nhiệm vụ nhận thức”.[4] Các công trình nghiên cứu ấy ra đời đã chứng minh tầm quan trọng của hệ thống học liệu đối với dạy học hiện nay. Một số khái niệm 1. Học liệu Khái niệm học liệu Học liệu là các phƣơng tiện vật chất lƣu giữ, mang hoặc phản ánh nội dung học tập của môn học thuộc chƣơng trình giáo dục đƣợc ngƣời học sử dụng làm phƣơng tiện và nguồn để học tập theo mục tiêu và nội dung của chƣơng trình và đƣợc giáo viên sử dụng làm căn cứ để tổ chức, hỗ trợ học tập theo đúng mục tiêu và nội dung dạy học.
Nhƣ vậy học liệu bao gồm hai thành phần: Thành phần vật chất có chức năng lƣu giữ hoặc phản ánh; thành phần nội dung: chứa nội dung học tập để cho ngƣời dạy và ngƣời học sử dụng phục vụ mục đích giáo dục. Tại sao phải sử dụng học liệu Trang bị cho những nhà giáo dục, đội ngũ hỗ trợ giảng dạy ở các trƣờng ĐH, học viện có khả năng thiết kế, sản xuất và quản lý học liệu nghe nhìn và phát triển các hoạt động học tập có ứng dụng công nghệ một cách phù hợp. với các hình thức giảng dạy nhƣ bài giảng trên lớp, workshop, seminar, các hoạt động thực hành, bài tập dự án cá nhân, thảo luận nhóm… Tạo điều kiện cho giáo viên đƣợc phát huy tính sáng tạo trong nghiên cứu, cải tiến các đồ dùng, thiết bị dạy học hiện có hoặc tự làm thêm các đồ dùng, thiết bị dạy học cần thiết trong công tác giảng dạy và tạo sự hứng thú học tập cho học sinh. Giúp học sinh tự chủ tìm kiếm và thu nạp thông tin, kiến thức ngoài giới hạn chƣơng trình.
Không giới hạn năng lực bản thân ngƣời học. Tạo tiền đề cho học tập suốt đời, giúp ngƣời học tự khẳng định mình và tạo ra giá trị bản thân cho chính mình và cho xã hội. Ý nghĩa học liệu Thông qua khám phá khai thác học liệu, dạng học liệu trực quan, sinh động giúp ngƣời học dễ dàng tiếp nhận tri thức, tăng khả năng ghi nhớ đặc trƣng của đối tƣợng. Dạng học liệu điện tử giúp ngƣời học chủ động sắp xếp thời gian học, tăng cƣờng khả năng ghi nhớ, có thể học theo tốc độ thích hợp của bản thân.
Nhờ nguồn học liệu phong phú, đa dạng ngƣời học đƣợc học theo nhu cầu, tốc độ, khả năng của bản thân. Thông qua thao tác và hệ thống học liệu, ngƣời học sẽ đƣợc rèn luyện các kĩ năng nhƣ: quan sát, so sánh các đối tƣợng gần nhau, phân tích và chỉ ra đƣợc kiến thức mới. Nhƣ vậy, hệ thống học liệu là một công cụ để giúp ngƣời học tiếp nhận 12 nguồn kiến thức môn học, vừa là một phƣơng tiện hỗ trợ hình thành kĩ năng thao tác, kĩ năng tƣ duy và năng lực cho ngƣời học. Nguồn học liệu điện tử là các nguồn tài liệu hay nguồn tin đã đƣợc số hoá phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy tại các cơ sở giáo dục và đào tạo, đƣợc khai thác thông qua các phƣơng tiện điện tử.
Đối với học sinh, học liệu mở cung cấp thêm nguồn tƣ liệu quý và khách quan trong học tập, kích thích sự năng động sáng tạo của bản thân học sinh. Đối với gíao viên và nhà nghiên cứu, học liệu mở là môi trƣờng giao tiếp kiến thức, hoàn thiện bài giảng, trao đổi trực tiếp và thân thiện với ngƣời học. Tiêu chí phân loại học liệu: Có nhiều cách để phân loại khác nhau nhƣng chúng tôi phân chia theo những tiêu chí sau: - Tiêu chí 1: Dựa vào đặc điểm của học liệu Đối với mỗi loại học liệu đều có một đặc điểm riêng. Đặc điểm này căn cứ vào mục đích bài giảng, yêu cầu sử dụng của GV và mức độ nhận thức của từng đối tƣợng HS.
Loại học liệu mà GV sử dụng cần đảm bảo có những đặc điểm phù hợp để đem lại hiệu quả cao. - Tiêu chí 2: Dựa vào tính chất của học liệu Mỗi loại học liệu lại có những tính chất khác nhau nhƣ: tính chính xác, tính hệ thống, tính thẩm mỹ,. Vì vậy dựa vào những tính chất này mà chúng tôi phân chia ra đƣợc các nhóm học liệu phục vụ dạy học nội dung thực vật và động vật môn khoa học 4. - Tiêu chí 3: Dựa vào ý nghĩa của học liệu Từ những đặc điểm và tính chất riêng dẫn đến ý nghĩa khác nhau của mỗi loại học liệu.
Việc xác định ý nghĩa của học liệu giúp GV lựa chọn và sử dụng đúng mục đích hơn, cung cấp cho HS kiến thức dễ tiếp cận nhất. Phân loại nhóm học liệu Học liệu số: + Khái niệm: nguồn học liệu số hay còn gọi là nguồn học liệu điện tử đƣợc hiểu là các nguồn thông tin đƣợc số hóa và lƣu trữ trên máy tính để phục vụ quá trình đào tạo học tập, nghiên cứu. + Đặc điểm: nguồn học liệu điện tử bao gồm giáo án điện tử (hay bài giảng điện tử; sách giáo khoa điện tử (giáo trình điện tử); tài liệu, tƣ liệu, công cụ phục vụ việc học tập dạng điện tử; các tài liệu tham khảo phục vụ việc học tập và nghiên cứu (sách, tạp chí khoa học, kỷ yếu hội nghị khoa học, kết quả khảo sát.) + Tính chất: Các nguồn tài liệu gíao viên cung cấp có tính chính xác, tính hệ thống, chứa nhiều tri thức khoa học, đƣợc sắp xếp, xử lí, xây dựng dựa trên nền tảng tri thức khoa học, đặc thù lứa tuổi đối tƣợng học (HS) và chứa đựng kinh nghiệm 13 thực tiễn ngƣời dạy đúc rút đƣợc trong quá trình dạy học,có tính linh động, có thể đƣợc điều chỉnh,mở rộng bởi khả năng tìm kiếm hỗ trợ từ các công cụ tìm kiếm, đƣợc thực hiện bởi học sinh, có thể tham khảo những tài liệu phát sinh để mở rộng diện nghiên cứu. + Ý nghĩa: giáo viên có thể cung cấp cho học sinh các nguồn thông tin số và hƣớng dẫn cách thức, nguồn tìm kiếm để học sinh nhanh chóng tiếp cận đƣợc thông tin cần thiết.
Học liệu điện tử: + Khái niệm: Học liệu điện tử là “các tài liệu học tập đƣợc số hóa theo một cấu trúc, định dạng và kịch bản nhất định, đƣợc lƣu trữ trên máy tính nhằm phục vụ việc dạy và học qua máy tính. Dạng thức số hóa có thể là văn bản, slide, bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video số, các ứng dụng tƣơng tác v.v… và cả tài liệu hỗn hợp gồm các dạng thức nói trên”. + Đặc điểm: Một bộ phận không nhỏ cấu thành nên nguồn học liệu điện tử của các trƣờng Đại học, Học viện, là nguồn tin điện tử nội sinh – kết quả của hoạt động nghiên cứu và đào tạo tại các trƣờng Đại học, Học viện. Nguồn tin điện tử nội sinh – một bộ phận của nguồn tin nội sinh tại các trƣờng Đại học, Học viện đã “phản ánh đầy đủ, hệ thống về các thành tựu cũng nhƣ tiềm lực, định hƣớng phát triển của trƣờng Đại học” (Tuấn, 2005).
+Tính chất: Sử dụng nguồn học liệu điện tử giúp ngƣời học dễ dàng nắm vững kiến thức môn học thông qua những hình ảnh, âm thanh, video, mô hình ảo minh hoạ…bổ trợ cho môn học. Tạo cho ngƣời học sự yêu thích, chủ động, tránh hiện tƣợng nhàm chán với công việc học tập của bản thân.Vì thế, việc tìm đến các nguồn học liệu đáp ứng cho nhu cầu tự học của bản thân ngƣời học trở nên quan trọng. + Ý nghĩa: nguồn học liệu điện tử là các nguồn tài liệu hay nguồn tin đã đƣợc số hoá phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy tại các cơ sở giáo dục và đào tạo, đƣợc khai thác thông qua các phƣơng tiện điện tử. Học liệu mở: + Khái niệm: Học liệu mở là một hình thức giảng dạy và học tập tích cực, đƣợc áp dụng ở nhiều trƣờng học.