Chương 1 : Cơ sở của việc xây dựng hệ thống câu hỏi dạy học đọc hiểu truyền thuyết. Chương 2 : Hệ thống câu hỏi dạy học đọc hiểu truyền thuyết. Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I CƠ SỞ CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỀN THUYẾT 1.
Đọc hiểu và dạy học đọc hiểu. Đọc hiểu và năng lực đọc hiểu. Quan niệm đọc hiểu. Khái niệm Trong giai đoạn hiện nay khái niệm đọc hiểu dường như không còn quá xa lạ với chúng ta.
Nếu như trước đây chúng ta chỉ xem đọc hiểu đơn giản chỉ là quá trình tiếp nhận và xử lí thông tin. Đó là một quá trình phức tạp và liên tục không ngừng. Đọc hiểu được xem xét như một quá trình giải mã và xử lí thông tin, biến thông tin đó thành kĩ năng nhằm xử lí những nhiệm vụ, công việc trong học tập và tạo nền tảng cho cuộc sống, góp phần hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu. Đọc - hiểu vừa có nghĩa là đọc vừa có nghĩa là tìm hiểu.
Bởi trong thực tế có người đọc mà không hiểu hoặc hiểu không hết lớp nghĩa chứa đựng trong kí tự ngôn ngữ, đặc biệt trong các văn bản nghệ thuật khi mà lớp ý nghĩa được người nghệ sĩ mã hóa rất sâu. GS- TS Nguyễn Thanh Hùng đưa ra khái niệm “ đọc - hiểu văn chương là phân tích mối quan hệ biện chứng giữa ba tầng cấu trúc của tác phẩm tìm ra sự quy chiếu và ý nghĩa riêng của nó.” Từ đó giáo sư đã đưa ra bài học sư phạm cần thiết trong dạy học đọc hiểu : “ Dạy đọc hiểu là dạy người tiếp nhận cách thức đọc ra nội dung trong những mối quan hệ ngày càng bao quát tác phẩm”. Đọc hiểu là phạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học. Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc, hành động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ.
Đọc chính xác thì hiểm đúng. Đọc kĩ , đọc phân tích thì hiểu sâu. Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình. Đọc sâu , đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới[17, tr.
Các nội dung chính của đọc- hiểu : Đọc hiểu được xem xét là một họat động nhận thức cao trong quá trình nhận thức của con người, là cơ sở của việc hình thành và phát triển năng lực cho người học mà chủ yếu nhất là năng lực đọc hiểu. Phân tích một cách cụ thể và kĩ lưỡng đọc hiểu ta nhận thấy rằng đọc hiểu bao gồm một số nội dung chủ yếu sau : 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước hết là giải mã hệ thống các từ ngữ: Kết quả có thể phát âm hoặc chuyển thành dạng ngôn ngữ thầm… Là giai đoạn tiếp xúc với các kí tự có chứa đựng nội dung trong đó. Mỗi một văn bản dù được thể hiện bằng loại ngôn ngữ gì, hình vẽ hay kí hiệu gì cũng đều chứa đựng một nội dung thông tin nhất định truyền đạt đến người đọc. Và nhiệm vụ của người đọc chính là tiếp xúc với hệ thống kí tự đó, giải mã nó để tiếp nhận nội dung thông tin được chứa đựng trong đó.
Trong quá trình này con người sử dụng thị giác để tiếp xúc hệ thống kí tự đã được thể hiện trên trên giấy và sử dụng tư duy, kinh nghiệm sống và vốn tri thưc của bản thân nhận biết nội dung và ý nghĩa của hệ thống kí hiệu được thể hiện trên giấy. Đọc là sự thu nhận thông tin có nội dung ý nghĩa nào đó. Vì thế đọc lại liên quan đến khả năng nhận thức, đến nhu cầu sống và giao tiếp của con người với sự sáng tạo của cuộc sống ngày càng cao[17, tr. Sau giai đoạn đọc là giai đọan hiểu- là sự tiếp nối một cách liên tục của hoạt động nhận thức.
Từ cơ sở những thông tin, những kiến thức vừa nhận thức được từ những kí tụ ngôn ngữ người đọc sẽ tiếp nhận nó một cách sâu sắc và kĩ lưỡng hơn. Có thể coi đây chính là giai đoạn chuyển những thông tin dược mã hóa bằng những kí tự trên giấy thành những thông tin được mã hóa trong bộ óc của con người. Là sự phản ánh kiến thức vào trong bộ óc con người thông qua thị giác và hoạt động tư duy. Từ những thông tin được thể hiện bên ngoài trang giấy người đọc đã biến chúng thành những thông tin của mình làm giàu thêm vốn kiến thức của bản thân.“Cách quan sát, hiểu, biểu đạt nội dung đã thu nhận được đều là ứng xử nhân tính do ngôn ngữ của con người có khả năng biểu đạt để hiểu nhau.
Vì vậy hiểu không chỉ được diễn đạt bằng quan niệm, bằng định nghĩa mà còn thông qua ngôn ngữ để biểu thị mối quan hệ giữa con người với nhau. Hiểu phụ thuộc chặt chẽ vào hành động đọc. Bản thân hiểu không phải là hành động mà là hiệu quả cụ thể rõ ràng khi thực hiện mục đích đọc. Hoạt động đọc hiểu còn được thể hiện và phản ánh ở việc đánh giá và vận dụng tri thức vào cuộc sống.
Đây có thể xem là hoạt động cao nhất của quá trình đọc hiểu và được các nhà giáo dục hiện đại đặc biệt nhấn mạnh. Đọc hiểu không chỉ dừng lại ở việc hiểu những nội dung và ý nghĩa đã được phản ánh ánh trên trang giấy mà còn phải xử lí nhũng thông tin đó ở một cấp độ cao hơn, sâu sắc hơn. Đó mới thực sự là hiểu. Từ việc nắm được tri thức, nắm được nội dung và ý nghĩa của 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những thông tin người đọc cần phải đưa ra ý kiến cá nhân về những gì mình vừa tiếp nhận, cần xem xết những thông tin ấy như thế nào? Có giá trị ra sao đối với công việc và cuộc sống hàng ngày? Có thể sử dụng những kiến thức đã tiếp thu được vào việc gì? Cần phải tiếp tục phát triển bổ xung những kiến thức ấy hay tìm hiểu những kiến thức khác?.
Một chuỗi những câu hỏi được đặt ra liên tục sẽ khiến cho người đọc hiểu thêm, hiểu sâu,hiểu kĩ về những gì mình vừa nhận được. Đây chính là giai đoạn quan trọng và góp phần chủ yếu để hình thành năng lực đọc hiểu cho người đọc. Trong giai đoạn hiện nay , yêu cầu thực tiễn được đánh giá cao và ngày càng coi trọng. Yếu tố năng lực đang được xem là kết quả cuối cùng hướng đến chứ không phải đơn thuần là kiến thức hàn lâm thì đây là một nội dung đã và đang được giáo dục quan tâm một cách đặc biệt.
Như vậy HS không chỉ phải biết mình học được những gì mà còn là những thứ mình học được có cần thiết, làm được gì cho cuộc sống sau này. Các phương diện của đọc hiểu: Trước hết cần khẳng định đọc hiểu là một trong những kĩ năng cần có của con người trong hoạt động tiếp nhận thông tin. Các kĩ năng chủ yếu là nghe, nói, đọc, viết. Tùy trong từng trường hợp cụ thể, trong từng hoạt động nhận thức cụ thể mà con người sử dụng kĩ năng phù hợp nhất để mang lại hiệu quả nhận thức cao nhất.
Có thể coi đọc hiểu là một dạng của kĩ năng đọc, nhấn mạnh đọc có nhận thức. Đọc hiểu không đơn giản chỉ là đọc thành tiếng, không chỉ là sự tiếp xúc với tri thức thông qua các kí tự mà là sự tiếp nhận thông tin một cách có chủ đích từ những kí tự. như vậy đọc hiểu là đọc ở một tầm cao hơn, ở một cấp độ khác. Ở một phương diện khác có thể nhìn nhận đọc hiểu như một hoạt động có tính văn hóa cao của con người.
Đọc hiểu được xem là một hoạt động tìm tòi cái mới từ những cái đã có ban đầu. Trên cơ sở tiếp nhận và thấu hiểu những kiến thức đươc cung cấp, người đọc ở một cấp độ nhất định sẽ không dừng lại ở việc chiếm lĩnh những kiến thức đó mà sẽ phát triển nó lên một mức độ cao hơn, tìm tòi những kiến thức mới trên nền tảng kiến thức cũ. Như vậy đọc hiểu được xem đồng nghĩa với nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá, là hoạt động tiếp nhận kiến thức ở cấp độ cao sâu sắc. Năng lực và năng lực đọc hiểu.Năng lực 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực (competence) là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latin “competentia” đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và có mặt trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: tâm lý học, triết học, xã hội học, giáo dục học, kinh tế học,… Năng lực bao hàm nhiều nghĩa đa dạng.
Tuy nhiên có thể tập trung vào một tâm điểm ngữ nghĩa rút ra từ một số từ đồng nghĩa hoặc nhiều nghĩa tương đồng như “khả năng” (ability), “năng khiếu” (aptitude), “tiềm năng” (capability), “sự thành thạo” (proficiency), “hiệu suất”(efficiency) “hiệu qủa” (effectiveness) và “kỹ năng” (skills). Có thể nói khái niệm năng lực là đa dạng, có nhiều định nghĩa cũng như cách hiểu nên không thể xác định được một định nghĩa tập trung đơn lẻ. Tuy nhiên, vẫn có thể giải thích và phát triển khái niệm năng lực theo những mục đích khoa học và thực tiễn. Một số quan niệm, định nghĩa khái niệm về năng lực nổi bật như: “1/ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
2/ Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao “(Hoàng Phê,Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà nẵng, 2000, trang 660-661). “Khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. Năng lực được thể hiệnvào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ. “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó.
Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhậy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân. “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống phong phú của cuộc sống” (Québec- Ministere de l‟Education, 2004).