CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm từ Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vở ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.
“Từ của Tiếng Việt là mốt số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nắm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu có ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. Mở rộng vốn từ Vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức âm, chữ và nội dung ngữ pháp) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong kí ức của mình. Vốn từ của từng người cụ thể, không ai giống ai. Vốn từ nhiều hay ít, đơn giản hay dạng tùy thuộc ở kính nghiệm sống, ở trình độ học vấn, ở sự giao tiếp, giao lưu văn hóa ngôn ngữ ở từng người.
mỗi một ngữ pháp phát triển có số lượng từ vựng hết sức lớn và phong phú, có thể lớn tới hàng chúc vạn, hàng chục từ. [10] Vốn từ của học sinh là toàn bộ các từ ngữ cố định (thành ngữ, tục ngữ,.) mà học sinh có được trong quá trình học tập, giao tiếp trong và ngoài nhà trường. Là đơn vị tương đương của từ tiềm tại trong trí óc của học sinh và được sử dụng trong hoạt động giao tiếp. [10] Như vậy, mở rộng vốn từ cho học sinh là mục đíchcủa các bài học mở rộng vốn từ theo chủ đề và tất cả các bài học liên quan đến từ.
Đó những bài học theo mạch các lớp từ vựng, mạch cấu tạo từ và mạch từ loại. Hệ thống bài tập Bài tập là một dạng nhiệm vụ học tập do giáo viên đặt ra cho học sinh, trên cơ sở những thông tin đã biết học phải tư duy, tìm ra cách giải quyết nhằm lĩnh 5 hội nội dung học tập, rèn luyện kĩ năng, đặt được mục tiêu của giờ học, bài học, môn học. Hệ thống bài tập là tập hợp các bài tập theo một trật tự nhất định, trong đó giưa các bài tập có mỗi liên hệ với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của bài học, giờ học, môn học. Vị trí và nhiệm vụ của phân môn luyện từ và câu lớp 2 1.
Vị trí của phân môn Luyện từ và câu lớp 2 Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất và tẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người, xã hội chủ nghĩa, bước đầu đầu xây tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học sinh trung học cơ sở (theo luật giáo dục). Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện kĩ năng giao tiếp.
Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tấm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở tiểu học. Việc dạy luyện từ và câu nhắm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ cho học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sở giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và các kiểu câu để thực hiện tư tưởng tình cảm của mình, đồng thời giúp học sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác. Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em. Nhiệm vụ dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 2 Theo Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học [6], nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học là giúp học sinh: - Mở rộng vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em: + Dạy nghĩa từ: Làm cho học nắm được nghĩa của từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ.
Dạy từ ngữ 6 phải hình thành những khả năng phát hiện từ mới cần tiếp nhận trong văn bản, nắm thảo tác giải nghĩa từ, làm rõ sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong các ngữ cảnh khác nhau. + Hệ thống hóa vốn từ: Dạy học sinh cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống để tích lũy từ nhanh chóng và tạo ra tính thường tục của từ, tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng từ trong hoạt động lời nói để thuận lợi. Công việc này được hình thành ở học sinh kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên quan tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo., tức là kĩ năng liên tưởng huy động vốn từ. + Tích cực hóa vốn từ: Dạy cho học sinh sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ trong lời nói và lời viết của học sinh, đưa từ vào vốn từ tích cực được học sinh dùng thường xuyên.
Tích cực hóa vốn từ tức là dạy học biết dùng từ ngữ trong hoạt động nói của mình. Dạy cho học sinh biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu dùng mẫu, phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp. Cùng cấp một số kiến thức về từ và câu: Trên cơ sở vốn ngôn ngữ có được trước khi đến trường, từ những hiện tượng cụ thể của tiếng mẹ đẻ, phân môn Luyện từ và câu cùng cấp cho học một số kiến thức về từ và câu cơ bản, sở giản, cần thiết và vừa sức với các em. Luyện từ và câu trạng bị cho học sinh những hiểu biết của cấu trúc của từ, quy luật hành chức của chúng.
Cụ thể đó là kiến thức về cấu tao từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại; các kiến thức về câu như câu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quý tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp. Các nguyên tắc dạy học phân môn Luyện từ và câu ❖ Nguyên tắc thực hành Nguyên tắc thực hành vận dụng vào trong dạy học tiếng Việt chính là dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp. Đây là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo toàn bộ quá trình dạy học tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng. Nguyên tắc thực hành yêu cầu khi dạy phân môn Luyện từ và câu phải đảm bảo các yêu cầu sau: 7 Thứ nhất, khi dạy bất kì một đơn vị ngôn ngữ nào cũng phải đặt chúng trong hoạt động hành chức của chúng.
Nghiên cứu các đơn vị nhỏ phải đặt chúng trong đơn vị lớn hơn: nghiên cứu từ trong câu, câu trong đoạn, đoạn trong văn bản. Thứ hai, việc lựa chọn nội dung dạy học Luyện từ và câu phải xuất phát từ việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp nghe, nói,đọc, viết cho học sinh. Thứ ba, chú trọng khâu thực hành trong dạy học Luyện từ và câu thông qua hệ thống bài tập. Thứ tư, các bài tập về từ và câu phải được xây dựng dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm ngôn ngữ của học sinh, ứng dụng những kiến thức đã học vào trong nói năng giao tiếp.
Thứ năm, thống nhất giữa lí thuyết và thực hành với mục đích phát triển lời nói. [3, 185] ❖ Nguyên tắc tích hợp Tích hợp trong dạy học Luyện từ và câu thể hiện ở những yêu cầu cơ bản sau: - Trong dạy học Luyện từ và câu, hai mảng kiến thức và kĩ năng về từ và câu cần được gắn bó chặt chẽ, thống nhất biện chứng và cùng hướng tới đích sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp. - Ở bậc Tiểu học, lần đầu tiên ngôn ngữ trở thành đối tượng quan sát, tìm hiểu của các em. Vì vậy để nắm bắt được các nội dung cơ bản về từ và câu, học sinh cần sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát.
Đây là điều khó khăn đối với học sinh Tiểu học. Để giảm bớt độ khó cho học sinh trong quá trình tiếp nhận, kiến thức về từ và câu được xây dựng theo hướng đồng tâm: các kiến thức và kĩ năng về từ và câu của lớp trên bao hàm kiến thức kĩ năng về từ và câu của các lớp dưới nhưng cao hơn và sâu hơn. Ở lớp 2, 3 các kiến thức về từ và câu chỉ đưa ra một số dấu hiệu để học sinh nhận biết thông qua các bài tập chứ không đưa ra khái niệm, thuật ngữ. Đến lớp 4, 5 học sinh được tìm hiểu sâu hơn về các khái niệm và bắt đầu được tiếp xúc với các thuật ngữ.
8 - Việc dạy học từ và câu phải được quan tâm mọi lúc, mọi nơi, ở các phân môn khác của Tiếng Việt và ở các môn học khác. [3, 186] ❖ Nguyên tắc trực quan Nguyên tắc trực quan trong dạy học Luyện từ và câu được xây dựng trên cơ sở đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh tiểu học từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Nguyên tắc này yêu cầu việc dạy học Luyện từ và câu phải chú ý đến các vấn đề sau: Trước hết cần chú trọng đến các ngữ liệu dạy học Luyện từ và câu. Ngữ liệu là một hình thức trực quan trong dạy học Luyện từ và câu.
Ngữ liệu thường được lựa chọn sao cho gần gũi với đời sống giao tiếp của các em và đặc biệt ngữ liệu phải chứa đựng đầy đủ các đặc điểm ngữ pháp của hiện tượng được tìm hiểu. Cần sử dụng các phương tiện trực quan như tranh ảnh, vật thật, mô hình… để dạy các bài luyện từ và câu phù hợp, giúp học sinh hiểu nghĩa từ chính xác và ghi nhớ bền vững các kiến thức. Trong dạy học Luyện từ và câu, giáo viên có thể sử dụng các sơ đồ, biểu bảng để giúp học sinh củng cố kiến thức về từ và câu một cách có hệ thống hoặc để hệ thống hóa kiến thức và tiết kiệm được thời gian. [3, 187] ❖ Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống của từ, câu trong dạy học Luyện từ và câu.
Chúng ta cần nắm được và cho học sinh từng bước làm quen với các khái niệm nghĩa của từ, tính nhiều nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, cấu tạo câu, các kiểu câu.