Chương I Điều 5 Mục 3 ghi rõ: Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt (Quốc hội, 2013). Từ lâu, Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò công cụ của TV trong nhiều văn bản từ tiểu học đến THPT. Nhưng trên thực tế dường như TV chỉ được chú ý tập trung cao độ ở cấp tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp. Các lớp này nếu không biết đọc, biết viết thì không thể học lên cao hơn.
Và do vậy việc coi TV như là công cụ, phương tiện tất yếu không có gì để tranh luận. Vấn đề xuất hiện khi HS càng học lên cao (Trung học cơ sở, trung học phổ thông, Đại học) thì TV không được coi trọng nữa. Hầu hết mọi người bằng lòng với vốn tiếng Việt ở trình độ tối thiểu đã được trang bị ở Tiểu học cộng với bản năng tiếng mẹ đẻ của mình. Tình trạng cứ nhìn vào mặt chữ trên trang giấy đọc ra TV coi như đã biết đọc, hiểu văn bản… Nhiều người không phân biệt được “mù chữ” và “mù văn”.
Năm 2018, chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn đã được thông qua; trong đó môn TV bậc tiểu học sẽ giúp HS hình thành và phát triển 7 những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn. Giúp HS bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản (đọc đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản (Bộ giáo dục & Đào tạo, 2018). Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện GD hiện nay, nhiều nghiên cứu tập trung vào triển khai định hướng GD mới vào thực tiễn GD và công tác QL ở các trường phổ thông hiện nay như: Trong luận văn thạc sĩ “Quản lý chất lượng giảng dạy môn TV lớp 5 ở một số trường TH tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đinh Tiến Toàn, đã đề xuất 9 giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy môn TV ở một số trường TH gồm: Cải tiến việc QL mục tiêu giảng dạy môn TV lớp 5; Xây dựng kế hoạch giảng dạy môn TV lớp 5; QL kế hoạch giảng dạy môn TV lớp 5; Tổ chức thực hiện kế hoạch giảng dạy môn TV lớp 5; Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giảng dạy môn TV lớp 5; Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giảng dạy môn TV lớp 5; Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên một cách hệ thống và hiệu quả; Tăng cường nhận thức của HS về vai trò của môn TV đối với sự phát triển nhân cách của các em; Bồi dưỡng GV và CBQL về DH môn TV theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của Bộ GD&ĐT ban hành (Đinh Tiến Toàn, 2012) Tác giả Ngô Thị Việt Hà với công trình nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học môn TV ở các trường TH Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh”, tác giả đã nghiên cứu các thực trạng về QL hoạt động dạy học môn TV ở các trường TH Thành phố Uông Bí: Thực trạng QL xây dựng kế hoạch và thực hiện chương trình DH môn TV; Thực trạng QL công tác soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của GV; Thực trạng QL giờ lên lớp của GV; Thực trạng quản lý GV tổ chức đổi mới phương pháp DH tích cực môn TV, nâng cao chất lựợng giờ dạy; Thực trạng QL công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS; Thực trạng QL hoạt động học tập môn TV của HS; Thực trạng QL sử dụng phương tiện và các điều kiện phục vụ DH môn TV (Ngô Thị Việt Hà, 2014) Tác giả Hoàng Tuyết Minh, nghiên cứu đề tài “QL dạy học theo tiếp cận 8 năng lực ở trường TH trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” Tác giả đã làm rõ được sự khác biệt trong tiếp cận năng lực so với các cách thức tiếp cận khác trong giảng dạy môn TV tại các trường TH, phân tích thực tiễn triển khai tại các trường TH quận Hà Đông, Hà Nội (Hoàng Tuyết Minh, 2017). Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Phương với đề tài “Quản lý hoạt động DH môn TV ở các trường TH vùng dân tộc thiểu số, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, tác giả đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến QL dạy học môn TV ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số như: Nhận thức đội ngũ CBQL, GV về QL dạy học môn TV ở các trường TH vùng dân tộc thiểu số; Mục tiêu và nội dung chương trình quản lý HĐDH môn TV ở các trường TH vùng dân tộc thiểu số; Cơ sở vật chất, trang thiết bị và các điều kiện hỗ trợ DH môn TV ở các trường TH vùng dân tộc thiểu số (Phạm Thị Phương , 2018).
Tác giả Lê Phương Nga với tài liệu viết về “Dạy học môn TV lớp 1 theo Chương trình GDPT mới”, tác giả đề cập về những điểm mới của môn TV lớp 1 chương trình 2018 theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho người học là đảm bảo tính hiện đại, phù hợp xu thế chung của GD thế giới. Bài viết này mô tả, đối chiếu làm rõ những điểm mới của chương trình môn TV nói chung, chương trình môn TV lớp 1 nói riêng: chú trọng phát triển năng lực, phẩm chất cho HS, tăng cường đọc hiểu, có thêm yêu cầu viết câu, đoạn; làm rõ thế nào là dạy cách học cho HS trong từng bài học và làm thế nào để thể hiện các yêu cầu cần đạt của bài học dưới dạng các kết quả chuẩn đầu ra mong đợi (Lê Phương Nga, 2019). Tác giả Đỗ Việt Hùng viết về “Dạy - học TV trong nhà trường theo hướng phát triển năng lực”. Tác giả tán đồng quan điểm xây dựng và phát triển chương trình GDPT theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Tư tưởng cơ bản của quan điểm này, như đã được nói đến ở nhiều tài liệu và trong nhiều phát biểu ở các Hội thảo khoa học là sự chuyển đổi căn bản từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực – nói một cách đơn giản, thì GD phải hướng tới việc Người học làm được gì? mà không hướng tới mục tiêu Người học biết gì? Như vậy, năng lực TV là năng lực sử dụng TV hiệu quả trong giao tiếp ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội – giao tiếp gia đình, giao tiếp nhà trường, công sở. 9 giao tiếp hành chính, khoa học, văn chương nghệ thuật. Hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực cho HS không chỉ tạo ra được tính thực tiễn cao của việc dạy – học TV trong nhà trường mà chính là một “lối thoát” quan trọng, khắc phục tính “hàn lâm” của nội dung dạy học môn TV, vốn được các nhà GD học và các phụ huynh coi là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự quá tải (Đỗ Việt Hùng, 2020). Tác giả Nguyễn Thị Kim Loan nghiên cứu đề tài “Quản lý HĐDH môn TVở các trường TH quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo hướng tiếp cận năng lực”.
Tác giả đã đề cập đến nhận thức về HĐDH môn TV ở các trường TH theo hướng tiếp cận năng lực của CBQL, GV và một số yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động. Từ nhận thức trên, có định hướng về tổ chức dạy học các phân môn TV sao cho môn học này hướng tới phát triển tốt nhất các năng lực sử dụng TV đối với HS tiểu học (Nguyễn Thị Kim Loan, 2020) Luận văn thạc sĩ “Quản lý HĐDH môn TV theo chương trình GDPT mới ở các trường TH huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” đã phân tích thực trạng quản lý HĐDH của CBQL và GV tại các Trường tiểu học huyện Vân Đồn theo chương trình GDPT mới. Nghiên cứu này đã thiết lập được hệ thống lý luận về quản lý HĐDH môn TV theo chương trình GDPT mới ở trường TH, đây là cơ sở dữ liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này với phạm vi và quy mô nghiên cứu khác nhau (Nguyễn Văn Tùng, 2020). Qua một số nghiên cứu trước đó về quản lý HĐDH môn TV cho HS tại các trường TH đáp ứng chương trình GDPT 2018, các tác giả đã khẳng định sự cần thiết phải quan tâm đến HĐDH môn TV cho HS, các biện pháp nâng cao chất lượng HĐDH môn TV.
Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý HĐDH môn TV tại các trường Tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đáp ứng chương trình GDPT 2018” nhằm đổi mới nội dung phù hợp với điều kiện hiện nay của đất nước, điều kiện địa phương là vô cùng cần thiết. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Khách thể nghiên cứu 10 Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho HS Tiểu học đáp ứng chương trình GDPT 2018. Đối tượng nghiên cứu Quản lý HĐDH môn TV cho HS tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đáp ứng chương trình GDPT 2018.
Phạm vi nghiên cứu 4. Về nội dung: Do chương trình GDPT 2018 bắt đầu triển khai ở cấp Tiểu học với lớp 1 từ năm học 2020 – 2021 và triển khai với lớp 2 từ năm học 2021 – 2022 nên đề tài tập trung nghiên cứu quản lý HĐDH môn TV cho HS lớp 1 và 2 tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018 dưới sự chỉ đạo, điều hành của Hiệu trưởng. Về địa bàn: Đề tài tập trung khảo sát tại 11 trường tiểu học ở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương gồm: Tiểu học Duy Tân, Tiểu học Chánh Phú Hòa, Tiểu học Định Phước, Tiểu học Hồ Hảo Hớn, Tiểu học Hòa Lợi, Tiểu học Lương Thế Vinh, Tiểu học Mỹ Phước, Tiểu học Tân Định, Tiểu học Thới Hòa, Tiểu học Trần Quốc Tuấn, Tiểu học Trần Văn Ơn. Đối tượng khảo sát Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên ở 11 trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Trong đó khảo sát 33 cán bộ quản lý (gồm: 11 Hiệu trưởng, 22 Phó hiệu trưởng) và 330 giáo viên của các trường Tiểu học trên địa bàn nghiên cứu. Tổng số người được khảo sát: 363 người. Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu thực trạng HĐDH môn TV và quản lý HĐDH môn TV tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đáp ứng chương trình GDPT 2018 trong thời gian 2 năm học 2020 - 2021 (đối với lớp 1) và 2021 – 2022 (đối với lớp 2). Phương pháp nghiên cứu 11 5.