CHƯƠNG 1: KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ NGUYÊN TẮC KẾT HỢP HÀI HÒA LỢI ÍCH NGẮN HẠN VÀ LỢI ÍCH DÀI HẠN TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN 1. Tổng quan về quản lý phát triển 1. Khái niệm Để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Như vậy có thể hiểu quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Từ đó có thể hiểu: Quản lý phát triển là quá trình biến các ý tưởng, các mục tiêu của phát triển thành những hành động cụ thể và tổ chức thực hiện các hành động đó để đạt được mục tiêu đã đặt ra.
Xác định Chủ thể quản lý Mục tiêu quản lý Đối tượng quản lý Thực hiện Hình 1: Quan hệ chủ thể quản lý – đối tượng quản lý – Mục tiêu quản lý Nguồn: Giáo trình Quản lý phát triển 1. Nội hàm của quản lý phát triển Mục tiêu của quản lý phát triển là phát triển bền vững. Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.
Đến nay, quan điểm về phát triển bền vững không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo hài hoà 3 lĩnh vực truyền thống như trên mà đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, phát triển bền vững vẫn đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat gia trên thế giới, mỗi quốc gia tuỳ vào theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa. riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. Đối tượng của quản lý phát triển là quá trình thực hiện các hoạt động phát triển.
Hoạt động phát triển là những hoạt động nhằm tạo ra năng lực mới hoặc tăng năng lực sản xuất vì mục tiêu phát triển. Các hoạt động phát triển chủ yếu thuộc lĩnh vực đầu tư công để tái sản xuất mở rộng, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Các hoạt động phát triển có thể được chia thành 2 nhóm: - Nhóm thứ nhất là các hoạt động phát triển sản xuất nhằm tạo ra một hay một số loại sản phẩm nào đó. Ví dụ: hoạt động phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, xây dựng đường giao thông, đưa giống cây trồng mới,… - Nhóm thứ hai là các hoạt động phát triển không sản xuất, sản phẩm của hoạt động phát triển này không tạo ra các hàng hóa cụ thể.
Ví dụ: việc cải thiện cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường, nâng cao năng lực cho con người… Chủ thể của quản lý phát triển gồm có thể được chia thành bốn chủ thể. Đó là nhà nước, doanh nghiệp (nhà cung ứng), cộng đồng dân cư và nhà tài trợ. - Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, là thể chế chính để thực hiện quản lý phát triển, nhiệm vụ của nhà nước là (i) Ra quyết định quản lý từ trung ương xuống địa phương; (ii) Tập hợp lợi ích phân tán, tập hợp nỗ lực phát triển của các bên; (iii) Tổ chức khai thác phân bổ nguồn lực; (iv) Phân cấp và phân nhiệm. - Cộng đồng dân cư là những người có thể được hưởng lợi hoặc chịu ảnh hưởng từ các hoạt động phát triển, họ được coi là chủ thể quan trọng nhất vì họ vừa (i) Là khách hàng, đối tượng hưởng thụ thành tựu của phát triển kinh tế; (ii) Là các nhà quản lý (xét theo góc độ quản lý).
- Doanh nghiệp (nhà cung ứng) là các cá nhân, tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện các hoạt động phát triển, nhà cung ứng bảo gồm 2 khu vực: khu vực công và khu vực tư nhân. - Nhà tài trợ có trách nhiệm hỗ trợ nguồn lực cho việc thực hiện hoạt động phát triển. Vai trò quản lý của nhà nước được thực hiện một cách chủ động, vai trò quản lý của cộng đồng dân cư và nhà cung ứng chỉ được thực hiện khi có sự huy động của nhà nước. Mọi hoạt động phát triển đưa ra đều tối đa hóa lợi ích của cộng đồng dân cư.
Tính chất của quản lý phát triển: Quản lý phát triển dựa trên sự hợp tác giữa các chủ thể này trên cơ sở sự đồng thuận. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 1. Nguyên tắc kết hợp hài hòa lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn trong quản lý phát triển 1. Nội dung của nguyên tắc kết hợp hài hòa lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn trong quản lý phát triển 1.
Bản chất nguyên tắc Mọi công việc quản lý suy cho cùng là quản lý con người nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của con người. Động lực khiến con người hành động chính là lợi ích. Nếu có sự nhất trí về lợi ích và nhu cầu sẽ có sự nhất trí về mục tiêu và hành động. Nguyên tắc kết hợp hài hòa lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn là một phần trong nguyên tắc kết hợp hài hòa lợi ích, bên cạnh việc phải kết hợp hài hòa lợi ích giữa các chủ thể.
Trong đó, ta có thể hiểu: - Lợi ích ngắn hạn hay lợi ích trước mắt: được sử dụng để mô tả những lợi ích tồn tại trong một thời gian ngắn, hoặc những thứ sẽ sớm có hiệu lực hơn là trong tương lai xa. - Lợi ích lâu dài: là những lợi ích không chỉ đem lại cho hiện tại mà còn tiếp tục trong một thời gian dài trong tương lai. Việc chú trọng đến lợi ích lâu dài chính là bản chất của việc phát triển bền vững khi quan tâm đến các nguồn lực phát triển cho tương lai. Nguyên tắc gắn với việc phát triển các khu công nghiệp Khu công nghiệp là những vùng lãnh thổ được dành riêng cho sản xuất công nghiệp.
Luật Đầu tư của Việt Nam năm 2014 định nghĩa “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.” Yêu cầu đảm bảo nguyên tắc hài hòa lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn trong quản lý phát triển các khu công nghiệp xuất phát từ mục tiêu của quản lý phát triển là nhằm thực hiện phát triển bền vững, là sự phát triển của hiện tại nhưng không được ảnh hưởng đến khả năng phát triển trong tương lai. Việc phát triển các khu công nghiệp không chỉ là việc phát triển thêm diện tích ở khu vực có ranh giới lân cận hoặc liền kề để nâng cao tiềm năng phát triển trong ngắn hạn mà còn đề cập đến tính lan tỏa của khu công nghiệp đến khu vực xung quanh. Sự phát triển bền vững của một KCN không chỉ phản ánh thông qua những kết quả đạt được theo các tiêu chuẩn bền vững nội tại của KCN mà còn phải được thể hiện ở vai trò tạo ra các tác động lan tỏa tích cực đối với các các nhóm lợi ích liên quan (các doanh nghiệp đối tác, địa phương, khu vực có KCN). Tác động lan tỏa (hay hiệu ứng lan tỏa) của các KCN được thể hiện trên ba khía cạnh khác nhau đối với doanh nghiệp trong nước, cả trong và ngoài KCN.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Như vậy, phát triển bền vững khu công nghiệp không nằm ngoài mục tiêu của phát triển bền vững là phát triển hiệu quả về kinh tế; phát triển hài hòa về mặt xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động; khai thác và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường khu công nghiệp. Các tiêu chí đánh giá việc đảm bảo nguyên tắc hài hòa lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn trong quản lý phát triển 1. Nhóm tiêu chí đánh giá mức độ bền vững về lợi ích kinh tế a) Nội tại KCN − Vị trí xây dựng khu công nghiệp Lợi thế về bố trí địa lý của KCN là tiền đề giúp cho các doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế theo vị trí. Các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, gần các trục đường giao thông, bến cảng, nhà ga, sân bay, sự hấp dẫn về thị trường các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu đầu vào sẵn có, chi phí vận chuyển ít; nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng đảm bảo, công tác đào tạo nguồn nhân lực để cung ứng lao động có kỹ thuật cho các KCN, nguồn cung về lực lượng tại chỗ, nhất là lao động khu vực nông thôn đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong các KCN) và thị trường tiêu thụ sản phẩm nội địa, công tác đền bù và giải phóng mặt bằng KCN.
có ảnh hưởng quan trọng đến sự lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp. Tùy thuộc đặc điểm của từng địa phương, khu vực mà tìm được các lợi thế so sánh, lựa chọn được phương án tối ưu về vị trí địa lý để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có, giảm thiểu các chi phí trong quá trình sản xuất, phát huy các tiềm năng thế mạnh của mình. − Diện tích đất và tỉ lệ lấp đầy KCN Diện tích đất công nghiệp là diện tích đất của khu công nghiệp để cho nhà đầu tư thuê, thuê lại thực hiện dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp, được xác định trong quy hoạch chi tiết xây dựng, quy hoạch phân khu xây dựng khu công nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Mức độ sử dụng đất KCN đo bằng tỉ lệ diện tích KCN đã cho các doanh nghiệp thuê so với tổng diện tích KCN.
Tổng diện tích đất công nghiệp của các khu công nghiệp đã được thành lập trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cho các dự án đăng ký đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thuê đất, thuê lại đất đạt tối thiểu 60%. Hiệu quả kinh doanh của các nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phụ thuộc rất lớn vào tỷ lệ lấp đầy KCN. Tiêu chí này được xem xét căn cứ vào mục tiêu quy hoạch và điều kiện hoạt động của KCN (vị trí địa lý, yêu cầu của các ngành công nghiệp, khả năng phát triển và các điều kiện về giao thông vận tải, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ).