MỞ ĐẦU Truyền nhiễm là hiện tượng tông hợp phát sinh khi vi sinh vật gây bệnh đã xâm nhập và sinh sôi nẩy nổ trong cơ thể động vật, là một quá trình bệnh lý học do hệ thống thần kinh cao cấp điều tiết để thích nghi vói điều kiện ngoại cảnh và đặc tính gây bệnh của vi sinh vật, để tiêu diệt vi sinh vật hoặc tiêu trủ độc tố của chúng. Trong sự phát sinh và phát triển của bệnh truyền nhiễm động vật cảm thụ, vi sinh vật gây bệnh và điều kiện ngoại cảnh kết thành một khối thống nhất tham gia vào quá trình này. Vi sinh vật gây bệnh là một điều kiện không thể thiêu được trong sự phát sinh của tất cả các loại bệnh truyền nhiễm, nhưng tác dụng quyết định đối vổi xu hưóng và kết quả của quá trình truyền nhiễm lại thuộc về cơ thể động vật và trạng thái cơ năng bảo vệ của chúng. Đồng thôi, điều kiện ngoại cảnh cũng rất quan trọng trong mối quan hệ giữa vi sinh vật gây bệnh và cơ thể động vật.
Nhà sinh vật học Mitsurin đã nói: "Phải xem cơ thê và ngoại cảnh là một khôi thống nhất" tức là phải nghiên cứu cơ thể sinh vật trong điều kiện thống nhất vdi hoàn cảnh bên ngoài, nguyên lý này cũng thích ứng cho động vật và vi sinh vật trong quá trình truyền nhiễm. Học thuyết Paplop cho rằng "Hệ thông thần kinh là khâu chủ đạo trong sự tiến hành bất cứ quá trình nào trong cơ thể và điều kiện sinh tồn của động vật là nhân tố ảnh hưỏng đên quá trình này". Quá trình sinh ra bệnh truyền nhiễm rất phức tạp, phương thức chủ yêu của truyền nhiễm là phản ứng của cơ thể đối vdi vi sinh vật, nó quyết định kết quả vả quá trình truyền nhiễm của bệnh. 4 Chư&ng I MẦM BỆNH Bệnh truyền nhiễm có một đặc tính chung là có tính chất lây lan do các loại vi sinh vật hay mầm bệnh gây ra.
Mầm bệnh là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh truyền nhiễm, chúng có nhiều loại và mỗi loại thưòng gây nên bệnh có đặc điểm riêng. Phần lổn vi khuẩn đòi hỏi những điều kiện nhất định mói gây được bệnh. Vi khuẩn tác động bằng nội, ngoại độc tố hoặc bằng những cơ chê lý hóa khác. Vi rút: Thưòng có hưống về một loại tổ chức nhất định, do đó thưồng gây những biểu hiện giống nhau ỏ những gia súc khác loài.
Bệnh do vi rút gây nên thưòng lây lan mạnh, có hiện tượng nhiễm trùng và làm trỗi dậy các bệnh ghép khác. Ngoài ra xoắn khuẩn, Rickettsia, Mycoplasma,. cũng là những nguyên nhân gây bệnh truyền nhiễm ỏ các loài động vật vổi các đặc điểm riêng của bệnh. VI KHUẨN Vi khuẩn (Bacteria) là những sinh vật mà cơ thể chỉ gồm một tế bào, chúng có kích thưóc thay đổi tùy từng loại, chiều ngang từ 0,2-1 |1, chiều dài từ 1-10 |1.
Vi khuẩn có hình thái riêng, đặc tính sinh vật riêng và chúng có khả năng gây bệnh cho ngưồi, động vật và thực vật. Đa số vi khuẩn sống hoại sinh trong tự nhiên và một số có khả năng tiết chất kháng sinh như Bacillus subtilis. Vi khuẩn có hình thái nhất định, hình thái này do màng vi khuẩn quyết định, trừ một số vi khuẩn không có màng nên không có hình thái cố định, cấu trúc từ ngoài vào trong của tế bào vi khuẩn có 3 phần: Màng - Nguyên sinh chất - Nhân. Một số vi khuẩn có giáp mô, nha bào, lông.
Cấu tạo tế bào vi khuẩn 1. Cấu tạo lý hoá học của màng Màng tế bào chiếm từ 25-30% khối lượng khô của vi khuẩn, màng có nhiều lỏp, mỗi lóp có một chức phận về sinh lý và kháng nguyên khác nhau. Màng của vi khuẩn Gram âm có cấu tạo tương đối khác nhau. 5 + ở vi khuẩn Gram dương: Màng có cấu tạo cơ bản là glycopeptit (còn gọi là mucopeptit, peptidoglycan, murein), hàm lượng glycopeptit trong màng tế bào vi khuẩn Gram dương chiếm tới 95%.
Đó là một phân tử khổng lồ có khối lượng phân tử hàng tỷ bao quanh vi khuẩn thành một cái túi. Màng được cấu tạo bỏi các chuỗi dài polysaccarit, các chuỗi này nối vói nhau bằng cầu nối peptit, chiều dài của màng thay đổi từ 15-80 nm (nanometre- nanometer). về mặt hóa học màng được cấu tạo bỏi glycopeptit, được tạo nên từ các chuỗi polysaccarit, các chuỗi này được cấu tạo từ nhiều loại đưồng khác nhau gắn vói các đưòng amin. Các mạch peptit đều tương đối ngắn, hầu hết gồm có: alamin, lyzin, axit D glutamic, glyxin và axit diaminopumelic, axit này là một yếu tố đặc hiệu của màng tê bào vi khuẩn.
Ngoài ra côn có thể thấy ỏ màng tế bào vi khuẩn Gram dương có các axit teicoic (AT) là các đồng phân của ribitolphotphat và glyxerolphotphat. + ỏ các vi khuẩn Gram âm: cấu trúc màng của vi khuẩn Gram âm rất phức tạp, ngoài glycopeptit còn có thêm các cấu trúc lipit và polypeptit nữa. Quan sát dưổi kính hiển vi điện tử có thể thấy màng gồm 3 lóp dày đặc đối vói các điện tử, giữa là một lớp sáng và lóp trong cùng thì đục hơn đối vói các điện tử, chiều dày của màng là 6- 15 nm. về mặt hóa học màng của các vi khuẩn Gram âm có từ 5-10% glycopeptit tương tự như glycopeptit của vi khuẩn Gram dương, ngoài ra cỏn thấy lipit tự do 20%, lipoprotein 50%, polysaccarit 20% những chất này đã tạo nên nội độc tố của vi khuẩn Gram âm.
Ví dụ: như các vi khuẩn đường ruột. Màng tế bào vi khuẩn là một cấu trúc bảo vệ, có thể cỏn là một bức tưòng của tế bào vi khuẩn. Màng tế bào vi khuẩn có các chức năng sau: + Là khung để giữ cho tế bào vi khuẩn có hình thái nhất định, vì màng có cấu trúc cứng chịu được áp suất nội tế bào (áp suất này khoảng 25 atmosphere), vì thế giúp cho vi khuẩn chống được các tác nhân vật lý v’à hóa học có hại ỏ bên ngoài như không bị phá hoặc vỡ khi bị xử lý bằng các thuốc tẩy mạnh. + Là nòng cốt của kháng nguyên thân (kháng nguyên 0): các vi khuan Gram dương: Chính câu -trúc polyozit của glycopeptit đã quyết định tính chất đặc hiệu về miễn dịch của kháng nguyên.
6 - ở các vi khuẩn Gram âm: màng tạo thành kháng nguyên 0, kháng nguyên này có tầm quan trọng trong công tác chẩn đoán. + ở các vi khuẩn gây bệnh, màng tế bào có vai trò nhất định tíong khả năng gây bệnh của vi khuẩn vì một số thành phần của màng mang tính chất độc, do đó gây nên hội chứng lâm sàng của các bệnh nhiễm khuẩn như nội độc tố của các trực khuẩn Gram âm. Vai trồ của màng vi khuẩn trong phương pháp nhuộm Gram Việc phân biệt ra hai loại vi khuẩn Gram dương (+) và vi khuẩn Gram âm (-) được đề xuất năm 1889 bỏi nhà vi khuẩn học Đan mạch Christian Gram. Muốn nhuộm Gram trưỏc hết ngưới ta nhuộm tiêu bản đã được cố định bằng Cristalviolet sau đó xử lý bắng dung dịch lugol, rồi tẩy màu bằng cồn hoặc bằng axeton, cuối cùng nhuộm bằng íìichsine hay safranin.
Vi khuẩn được coi là Gram dương (+) nếu không bị tẩy mầu khi xử lý bằng cồn hoặc axetol tức là vẫn giữ màu tím của Cristalviolet, cỏn vi khuẩn được coi là Gram âm (-) thì khi được tẩy bằng cồn hơặc axeton bị mất màu tím của thuốc nhuộm thứ nhất và sau đó sẽ bắt màu của thuốc nhuộm thú hai tức màu hồng của tùchsine hoặc safranin. Màng tế bào vi khuẩn cộ vai trỏ quyết định tính chất bắt màu Gram, bổi nguyên sinh chất của mọi vi khuẩn đều bắt màu Gram âm, mặc dầu ỏ các vỉ khuẩn có nguổn gốc là vi khuẩn Gram dương. Nêu nguyên sinh chất còn lại một số mảnh glycopeptít thì trình độ dương tính của Gram mạnh hay yêu liên quan đến sô lượng côn lại ít hay nhiều của mảnh này. * , 1 Cơ chê nhuộm Gram đã được nghiên cứu nhiều nhưng cho đến nay vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Dù sao thì cơ chế nhuộm Gram cũng phụ thuộc vào nhiều yêu tố lý hóa học của tế bào vi khuẩn. Có nhiều giả thiết về cơ chế nhuộm Gram nhưng có hai giả thiết được chú ý nhiều nhất: Giả thiết hoá học ' ' Giả thiết này cho rằng ỏ vi khuẩn Gram dương có cấu tạo hóa học trong té bào có những chất đặc biệt mà ỏ vi khuẩn Gram âm không có hoặc có rất ít, đó là những protein kiềm, muối magiê và axít nucleic. Khi nhỏ crystalviolet rồi xử lý bằng lugol, các chất trên thấm vào tíong tế bào và tạo vói các chất đặc biệt có trong tế bào thành một phức hợp protein ribonucleat magiê oid pararosarãlin. Chất này'Cố định thuốc 7 nhuộm trong tế bào, thuốc nhuộm này bền vững và không bị hỏa tan trong cồn hoặc axeton, vì thế khi tẩy màu, vi khuẩn Gram dương vẫn giữ được màu tím của Cristalviolet, cuổi cùng khi nhỏ fuchsine, do té bào đã nhuộm màu tím nên không băt màu hồng của fuchsine nữa.
Trái lại vói các vi khuẩn Gram âm, phức hợp trên không hình thành, không cố định được thuốc nhuộm vì thế bưổc tẩy màu đã lảm vi khuẩn mất màu, do đó khi nhỏ fuchsine vi khuẩn sẽ bắt màu hồng của fuchsine. Giả thiết về cấu trúc màng Tính chất bắt màu Gram là do tính thấm của màng tế bào quyết định, tính thấm này mạnh ỏ các vỉ khuẩn Gram âm, nó cho phép cồn và axeton lôi kéo được thuốc đã nhuộm trong tế bào ra ngoài. Giả thiết này có vẻ có giá trị hơn, vì nó phù hợp vói cấu trúc hóa học của màng tế bào vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Tuy nhiên mức độ bền vững của thuốc nhuộm vói nguyên sinh chất tế bào cỏn phụ thuộc vào điều kiện nuôi cấy, thành phần đinh dưỡng của môi trưởng và thòi gian nuôi cấy vi khuẩn.
Trong điều kiên đó vi khuẩn Gram dương chuyển thành vi khuẩn Gram âm. Ví dụ: Vi khuẩn Clostridium Chauvoei bắt màu Gram dương Ưong canh trùng non, Gram âm trong canh trùng già. * Màng nguyên sinh chất hay màng tế bào chất (Cytoplasmic membrane, protoplasmic membrane). Dưói lóp màng tế bào là lóp màng nguyên sinh chất (Cytoplasmic membrane), lóp màng này bao bọc toàn bộ khối nguyên sinh chất và nhân.
* Phương pháp nghiên cứu màng nguyên sinh chất: + Dùng phương pháp tách nguyên sinh chất: Đặt vi khuẩn vào một dung dịch ưu trương, nước thoát khỏi tế bầo vi khuẩn, vi khuẩn co lại, nguyên sinh chất tách khỏi màng tế bào làm xuất hiện một màng chiết quang bao bọc, phương pháp này cỏn chứng minh được nhiệm vụ của màng nguyên sinh chất trong việc thẩm thấu của tế bào. + Bằng phương pháp nhuộm màu nguyên sinh chất bắt màu tổt hơn.