Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ngành nông nghiệp tại Việt Nam, lĩnh vực chăn nuôi lợn đã có những chuyển biến rõ rệt theo hướng chuyên môn hóa sản xuất và tập trung hóa tại các trang trại quy mô lớn. Nhằm gia tăng sản lượng thịt xẻ và cải thiện phẩm chất thịt thương phẩm, các giống lợn ngoại có năng suất cao đã được nhập khẩu và đưa vào cơ cấu đàn nuôi tại nhiều địa phương. Tỉnh Thái Nguyên là địa bàn trung du miền núi phía Bắc đã triển khai tích cực chương trình nạc hóa đàn lợn, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và xây dựng hệ thống trang trại tập trung cách xa khu dân cư.

Tuy nhiên, các giống lợn ngoại nuôi tại vùng có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều vào mùa hè và lạnh khô vào mùa đông thường bộc lộ khả năng thích nghi và sức đề kháng hạn chế trước những biến động thời tiết đột ngột. Trong số các vấn đề dịch bệnh phát sinh tại các cơ sở chăn nuôi tập trung, hội chứng bệnh đường hô hấp ở lợn là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng nhất. Bệnh có khả năng lây lan nhanh chóng qua đường không khí, mầm bệnh tồn tại dai dẳng trong cơ thể vật nuôi cũng như chất thải chăn nuôi, làm gia tăng hệ số tiêu tốn thức ăn, khiến đàn lợn còi cọc, chậm lớn, đồng thời đòi hỏi chi phí và thời gian điều trị kéo dài. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Nguyễn An Đông đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Thú y với đề tài: "Tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp ở lợn nuôi thịt tại trại lợn Tích Lương - Thái Nguyên và biện pháp phòng trị".

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Xác định một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng hô hấp trên đàn lợn thịt nuôi tại trại lợn Tích Lương, Thái Nguyên.
  2. Xác định và đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh đường hô hấp trên đàn lợn.
  3. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh đường hô hấp của 2 loại thuốc kháng sinh Sun – Tylan và Tiamulin 10%.

Bên cạnh nhiệm vụ nghiên cứu khoa học chuyên đề, tác giả thực hiện đồng thời các nhiệm vụ phục vụ sản xuất thực tế tại cơ sở bao gồm: chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn; thực hiện lịch tiêm phòng vaccine định kỳ; chẩn đoán và điều trị các ca bệnh lâm sàng; thực hiện công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng; và trực tiếp tham gia các thao tác kỹ thuật như đỡ đẻ, bấm nanh, cắt đuôi, thiến đực và thụ tinh nhân tạo cho lợn nái.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn thịt ngoại thương phẩm giai đoạn từ cai sữa đến 5 tháng tuổi.
  • Phạm vi không gian: Trại lợn Hường Cương (do ông Dương Thanh Cương làm chủ), xóm Tung, xã Tích Lương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Trang trại có tổng diện tích 13.600 m2, quy mô chuồng nuôi 5.500 m2 với 3 dãy chuồng nuôi lợn thịt và 2 dãy chuồng nuôi lợn sinh sản.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài và các công tác phục vụ sản xuất được triển khai liên tục từ tháng 06/2013 đến tháng 11/2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý thuyết, khóa luận hệ thống hóa cơ sở sinh lý bộ máy hô hấp của gia súc và bệnh học chuyên khoa thú y đối với hội chứng hô hấp ở lợn. Cơ quan hô hấp của lợn gồm đường dẫn khí (mũi, hầu, họng, khí quản, phế quản) và phổi với hệ thống phế nang phong phú. Tần số hô hấp sinh lý bình thường của lợn dao động trong khoảng 10 - 20 lần/phút. Quá trình hô hấp bị rối loạn khi có sự xâm nhập của mầm bệnh kết hợp với các kích ứng ngoại cảnh, dẫn tới phản xạ ho, khó thở, thở thể bụng và thiếu hụt oxy nghiêm trọng, từ đó gây tích tụ axit lactic và nhiễm độc toan.

Văn bản tổng quan các tác nhân gây bệnh đường hô hấp phổ biến gồm:

  • Vi khuẩn: Mycoplasma hyopneumoniae (căn nguyên gây bệnh suyễn lợn hay viêm phổi địa phương thể mãn tính, đặc trưng bởi tổn thương viêm phổi kính, nhục hóa ở thùy đỉnh và thùy tim); Actinobacillus pleuropneumoniae (căn nguyên gây viêm phổi - màng phổi lây lan mạnh ở lợn 2 - 5 tháng tuổi, có khả năng tiết enzyme protease phá hủy hồng cầu và sinh ngoại độc tố, nội độc tố gây tích dịch fibrin và dính sườn); Pasteurella multocida (căn nguyên gây tụ huyết trùng và viêm phổi kế phát); và Streptococcus suis (gây viêm phế quản, phổi hóa mủ, kết hợp viêm màng não và viêm khớp).
  • Virus: Coronavirus (Virus pneumoniae), Influenzavirus typ A (các phân typ H1N1, H1N2, H3N2 gây cúm lợn), và virus PRRS (thuộc họ Togaviridae, phân lập chủng Lelystad gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp).
  • Ký sinh trùng: Giun phổi Metastrongylus ký sinh tại phế quản và ấu trùng giun đũa Ascaris suum trong giai đoạn di hành qua nhu mô phổi.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp điều tra dịch tễ học lâm sàng: Thống kê toàn bộ đàn lợn thịt theo dõi tại trại (398 cá thể thuộc 38 đàn tại 3 dãy chuồng). Lập sổ theo dõi lâm sàng, quan sát trực tiếp đàn lợn vào các khung giờ cố định trong ngày (sáng sớm và chiều tối), đặc biệt chú ý các ngày có thời tiết thay đổi đột ngột. Ghi nhận các biểu hiện ho khan, ho từng hồi, chảy nước mũi, tần số hô hấp tăng, kiểu thở giật cục hoặc thở thể bụng.
  • Phương pháp giải phẫu bệnh lý: Mổ khám các cá thể chết do hội chứng hô hấp để quan sát, ghi nhận các bệnh tích đại thể tại phổi, màng phổi, khí quản và hệ thống hạch lâm ba vùng ngực.
  • Phương pháp thử nghiệm điều trị lâm sàng so sánh: Tuyển chọn 68 cá thể lợn mắc bệnh đường hô hấp có triệu chứng điển hình, phân chia ngẫu nhiên vào 2 lô thí nghiệm với các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh đồng đều:
    • Lô 1 (Phác đồ 1): Sử dụng kháng sinh Sun - Tylan tiêm bắp với liều 1 ml/10 kg thể trọng (thuốc có tác dụng kéo dài 60 giờ), kết hợp thuốc giảm đau, hạ sốt Navet-Analgin C (1 ml/10-15 kg thể trọng), thuốc giãn phế quản, long đờm MD-Bromhexin và bổ sung Vitamin C, B.complex.
    • Lô 2 (Phác đồ 2): Sử dụng kháng sinh Tiamulin 10% tiêm bắp với liều 1 - 1,5 ml/10 kg thể trọng/ngày, tiêm liên tục từ 3 đến 5 ngày, kết hợp cùng hệ thống thuốc hỗ trợ triệu chứng và trợ lực tương tự Lô 1.
  • Nguồn dữ liệu và xử lý số liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua ghi chép trực tiếp từ thực tế chăm sóc, tiêm phòng và điều trị bệnh tại trại. Toàn bộ số liệu được phân tích, tính toán tỷ lệ phần trăm theo các công thức dịch tễ học thú y chuẩn và xử lý thống kê sinh vật học bằng phần mềm Microsoft Excel dựa trên phương pháp của Chu Văn Mẫn (2002).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Nội dung phần này phản ánh toàn diện quá trình tác giả trực tiếp tham gia lao động kỹ thuật và quản trị dịch bệnh tại Trại lợn Tích Lương. Công tác điều tra cơ bản cho thấy trang trại vận hành theo mô hình kinh tế hộ gia đình có 8 lao động (5 lao động trực tiếp, 3 lao động gián tiếp), cung cấp từ 1.500 đến 2.500 lợn thịt mỗi năm cùng hàng chục tấn phân bón. Cơ sở hạ tầng gồm 5 dãy chuồng: 3 dãy dành cho lợn sau cai sữa và nuôi thịt (mỗi dãy gồm các ô chuồng diện tích 33 m2 nuôi 18 - 20 con, trang bị máng ăn, vòi uống tự động và bể tắm mát) và 2 dãy dành cho lợn giống (nái hậu bị, nái chửa, đực giống và nái nuôi con).

Trong công tác chuyên môn, tác giả đã trực tiếp thực hiện các hạng mục:

  • Chăm sóc và nhân giống: Thực hiện thụ tinh nhân tạo cho 6 lợn nái đạt tỷ lệ thụ thai 100%; tham gia trực và đỡ đẻ an toàn cho 14 ca đẻ; tiến hành tiêm sắt (Fe-Dextran B12 10%), bấm số tai và thiến lợn đực nuôi thịt cho 128 lợn con sơ sinh đạt tỷ lệ an toàn 100%.
  • Vệ sinh phòng bệnh: Tham gia quét vôi khử trùng chuồng trại 11 lần, phun thuốc sát trùng 8 lần, tẩy uế hố sát trùng lối đi 8 lần; cho 152 lợn con uống thuốc phòng cầu trùng Baycox 5%.
  • Tiêm phòng vaccine: Triển khai tiêm phòng định kỳ các loại vaccine theo đúng quy trình của trại đạt tỷ lệ an toàn tuyệt đối 100%, cụ thể gồm: vaccine Dịch tả lợn (152 con), vaccine Phó thương hàn (95 con), vaccine Lở mồm long móng (97 con), vaccine Tụ - Dấu (96 con), vaccine Mycoplasma phòng suyễn (88 con) và vaccine Farrowsure phòng hội chứng rối loạn sinh sản (85 nái).
  • Chẩn đoán và điều trị bệnh phát sinh: Chẩn đoán và điều trị thành công 3 ca viêm tử cung ở lợn nái bằng Amoxycen 200LA (tỷ lệ khỏi 100%); điều trị 10 ca ghẻ bằng Idectin (tỷ lệ khỏi 100%); điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa cho 50 cá thể, có 46 con khỏi bệnh (đạt tỷ lệ 92%); điều trị hội chứng hô hấp cho đàn lợn đạt tỷ lệ khỏi từ 89,06% đến 89,7%.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học - Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học

Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến bệnh học đường hô hấp ở lợn. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú, Đặng Xuân Bình đã khẳng định vai trò của Mycoplasma hyopneumoniae, Actinobacillus pleuropneumoniae và Pasteurella multocida là những nguyên nhân hàng đầu gây hội chứng ho, khó thở truyền nhiễm. Đặng Xuân Bình và cộng sự (2007) chỉ ra tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi theo đàn ở lợn thịt giai đoạn 2 - 3 tháng tuổi đạt 100%, tỷ lệ cá thể đạt 36,53%, trong đó tỷ lệ phân lập được A. pleuropneumoniae chiếm 37,83%. Các nghiên cứu quốc tế của Eastaugh, John Carr, Stan Done, Buttenschon cũng nhấn mạnh tác động của các yếu tố ngoại cảnh, mật độ nuôi nhốt và khí độc chuồng nuôi đối với sự bùng phát và mức độ trầm trọng của bệnh viêm phổi - màng phổi.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học - Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tác giả trình bày các số liệu điều tra dịch tễ thực tế thu thập trên đàn lợn thịt 398 con tại trại Tích Lương qua các khía cạnh dịch tễ học cơ bản:

  • Tỷ lệ mắc bệnh theo đàn và theo dãy chuồng: Khảo sát trên 38 đàn cho thấy có 35 đàn xuất hiện lợn mắc bệnh đường hô hấp, chiếm tỷ lệ 92,10%. Về mặt cá thể, có 68/398 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 17,08%. Mức độ nhiễm bệnh có sự phân hóa mạnh giữa các dãy chuồng: Dãy chuồng 1 có tỷ lệ cá thể mắc 10,48% (15/143 con); Dãy chuồng 2 có tỷ lệ cá thể mắc 15,86% (23/145 con); trong khi Dãy chuồng 3 có tỷ lệ đàn mắc 100% (10/10 đàn) và tỷ lệ cá thể mắc lên tới 27,27% (30/110 con). Nguyên nhân là do dãy 3 được xây dựng lâu năm, cơ sở vật chất xuống cấp, chuồng nuôi không có ngăn cách khu thải phân riêng biệt, thiếu quạt thông gió làm nồng độ khí độc NH3 và H2S tích tụ cao, đồng thời thiếu rèm che chắn gió lùa khi thời tiết thay đổi.
  • Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi: Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi nhưng có xu hướng tăng dần theo độ tuổi của lợn thịt. Giai đoạn từ cai sữa đến 2 tháng tuổi có tỷ lệ mắc thấp nhất với 9,09% (10/110 con); giai đoạn 2 - 3 tháng tuổi mắc 12,00% (12/100 con); giai đoạn 3 - 4 tháng tuổi mắc 21,05% (20/95 con); và đạt mức cao nhất ở giai đoạn 4 - 5 tháng tuổi với 27,95% (26/93 con). Lý do là lợn nuôi càng lâu thì thời gian tiếp xúc với mầm bệnh tồn lưu tại nền chuồng và tiểu khí hậu chuồng nuôi càng kéo dài.
  • Tỷ lệ mắc bệnh theo tháng trong năm: Trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 10/2013, tỷ lệ mắc bệnh dao động theo diễn biến thời tiết. Tháng 6 và tháng 9 ghi nhận tỷ lệ mắc thấp nhất (3,02%, tương ứng 12/398 con mỗi tháng). Tháng 7 có tỷ lệ mắc cao nhất (4,02%, 16/398 con) do thời tiết nắng nóng gay gắt kết hợp mưa nhiều, độ ẩm không khí tăng cao làm gia tăng sự phát triển của vi khuẩn và gây stress nhiệt cho lợn. Tháng 8 tỷ lệ giảm xuống 3,26% (13/398 con), nhưng đến tháng 10 tỷ lệ mắc tăng trở lại mức 3,77% (15/398 con) do thời tiết chuyển từ mùa thu sang mùa đông, biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch lớn làm giảm sức đề kháng của niêm mạc đường hô hấp.
  • Tỷ lệ mắc bệnh theo tính biệt: Khảo sát trên 205 lợn đực và 193 lợn cái cho thấy lợn đực mắc 32 con (15,60%), lợn cái mắc 36 con (18,65%). Tỷ lệ mắc ở lợn cái cao hơn lợn đực 3,05%, được lý giải do trong điều kiện nuôi nhốt mật độ đông và dồn ghép đàn, lợn cái có sức đề kháng và thể trạng mẫn cảm hơn trước các yếu tố bất lợi của môi trường.
  • Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích: Triệu chứng điển hình được ghi nhận là lợn mệt mỏi, kém ăn, tách đàn, sốt nhẹ hoặc sốt cao (trên 41°C khi có kế phát), hắt hơi, ho khan nhiều vào sáng sớm và chiều mát, chảy nước mắt, nước mũi, nhịp thở nhanh, thở thể bụng hoặc ngồi thở như chó. Mổ khám các cá thể chết phát hiện bệnh tích viêm phổi kính, phổi nhục hóa, gan hóa màu đỏ sẫm hoặc xám nhạt, màng phổi dày dính vào lồng ngực kèm dịch rỉ viêm fibrin, phế quản chứa nhiều dịch bọt và hạch lympho vùng phổi sưng to gấp 2 - 5 lần.

Kết quả và đóng góp

Văn bản khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chi tiết về tình hình bệnh hô hấp và hiệu quả công tác thú y tại Trại lợn Tích Lương, được tổng hợp qua các bảng số liệu sau:

Bảng 1: Kết quả điều tra tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo dãy chuồng và theo tính biệt

Tiêu chí phân loại Nhóm theo dõi Số lượng theo dõi Số mắc bệnh Tỷ lệ mắc (%)
Theo dãy chuồng Dãy 1 (mới, có ngăn phân, quạt gió) 143 con (14 đàn) 15 con (12 đàn) 10,48% (85,71% đàn)
Dãy 2 (mới, điều kiện vệ sinh tốt) 145 con (14 đàn) 23 con (13 đàn) 15,86% (92,85% đàn)
Dãy 3 (cũ, xuống cấp, không ngăn phân) 110 con (10 đàn) 30 con (10 đàn) 27,27% (100% đàn)
Tính chung toàn trại 398 con (38 đàn) 68 con (35 đàn) 17,08% (92,10% đàn)
Theo tính biệt Lợn đực 205 con 32 con 15,60%
Lợn cái 193 con 36 con 18,65%

Bảng 2: Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo lứa tuổi và theo tháng theo dõi

Giai đoạn lứa tuổi Số theo dõi (con) Số mắc (con) Tỷ lệ (%) Tháng theo dõi Số theo dõi (con) Số mắc (con) Tỷ lệ (%)
Cai sữa - 2 tháng 110 10 9,09% Tháng 6 398 12 3,02%
2 - 3 tháng 100 12 12,00% Tháng 7 398 16 4,02%
3 - 4 tháng 95 20 21,05% Tháng 8 398 13 3,26%
4 - 5 tháng 93 26 27,95% Tháng 9 398 12 3,02%
Tháng 10 398 15 3,77%

Bảng 3: Kết quả thực hiện các công tác kỹ thuật thú y phục vụ sản xuất

Nội dung công việc thực hiện Số lượng theo dõi (con) Kết quả đạt được (con) Tỷ lệ thành công (%)
Tiêm vaccine Dịch tả lợn 152 152 100% an toàn
Tiêm vaccine Phó thương hàn 95 95 100% an toàn
Tiêm vaccine Lở mồm long móng 97 97 100% an toàn
Tiêm vaccine Tụ - Dấu 96 96 100% an toàn
Tiêm vaccine Mycoplasma (Suyễn) 88 88 100% an toàn
Tiêm vaccine Hội chứng sinh sản 85 85 100% an toàn
Điều trị hội chứng tiêu chảy 50 46 92,00% khỏi
Điều trị hội chứng hô hấp (tổng hợp) 68 61 89,70% khỏi
Điều trị bệnh ghẻ lợn 10 10 100% khỏi
Điều trị bệnh viêm tử cung 3 3 100% khỏi
Đỡ đẻ lợn nái 14 ca 14 ca 100% an toàn
Bổ sung sắt, bấm tai, thiến lợn con 128 128 100% an toàn
Cho uống Baycox 5% phòng cầu trùng 152 152 100% an toàn
Thụ tinh nhân tạo lợn nái 6 6 100% thụ thai

Đóng góp và đề xuất của tác giả:

  • Về mặt thực tiễn, đề tài chứng minh hiệu lực can thiệp điều trị của hai phác đồ kháng sinh Sun - Tylan và Tiamulin 10% kết hợp thuốc hỗ trợ triệu chứng (MD-Bromhexin giãn phế quản, Navet-Analgin C hạ sốt giảm đau) và vitamin trợ sức, giúp tỷ lệ hồi phục ở đàn lợn mắc bệnh đạt gần 90%. Trong đó, kháng sinh Sun - Tylan thể hiện ưu điểm với thời gian tác dụng kéo dài 60 giờ, giúp giảm thiểu số lần tiêm và hạn chế gây stress cho lợn bệnh so với Tiamulin 10% tiêm liên tục 3 - 5 ngày.
  • Tác giả đã thẳng thắn chỉ ra các tồn tại trong quy trình quản lý của trại: lợn ốm hầu như không được cách ly mà vẫn nuôi nhốt chung ô với lợn khỏe; khâu xử lý, chôn xác lợn chết do bệnh còn bất cập; công tác tiêu độc khử trùng chuồng nuôi chỉ được chú trọng khi có dịch bùng phát.
  • Các kiến nghị cụ thể được đề xuất gồm: trang trại cần đầu tư cải tạo cơ sở vật chất, đặc biệt là nâng cấp hệ thống thông gió và rãnh thoát phân tại các chuồng cũ; thực hiện nghiêm ngặt việc cách ly lợn ốm ngay khi xuất hiện dấu hiệu lâm sàng ban đầu; quản lý trang thiết bị phù hợp tránh lãng phí nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất; và duy trì định kỳ việc phun thuốc sát trùng, quét vôi tiêu độc chuồng trại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do điều kiện thực tế quy định:

  • Đề tài được thực hiện trong khuôn khổ thực tập tốt nghiệp đại học với giới hạn về kinh phí, trang thiết bị phòng thí nghiệm và thời gian (6 tháng). Do đó, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc chẩn đoán lâm sàng, dịch tễ học mô tả và mổ khám bệnh tích đại thể, chưa tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm để phân lập, định danh chính xác các chủng vi khuẩn (Mycoplasma hyopneumoniae, Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida) hay xét nghiệm huyết thanh học và PCR phát hiện các biến chủng virus gây bệnh.
  • Nghiên cứu chưa thực hiện thử nghiệm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm đối với các vi khuẩn phân lập tại trại để đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng thuốc của vi khuẩn, mà chỉ dựa vào thử nghiệm lâm sàng so sánh hai loại thuốc thương phẩm có sẵn.
  • Một số bảng số liệu chi tiết về tỷ lệ chết theo tháng và tỷ lệ tái nhiễm lần 2 chưa được trình bày hoàn chỉnh trong bản văn bản do lỗi kỹ thuật đánh dấu trang lưu trữ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Cần mở rộng nghiên cứu lấy mẫu dịch ngoáy mũi, dịch phế quản và mô phổi lợn bệnh tại các trại chăn nuôi tập trung ở Thái Nguyên để phân lập vi sinh vật chuyên sâu.
  • Thực hiện kháng sinh đồ định kỳ nhằm phát hiện sớm hiện tượng vi khuẩn kháng các dòng kháng sinh phổ biến, làm cơ sở khoa học để xây dựng phác đồ điều trị luân phiên hiệu quả.
  • Nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm autovaccine vô hoạt từ chính các chủng vi khuẩn phân lập tại địa phương nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa hội chứng hô hấp phức hợp ở lợn ngoại.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận tốt nghiệp này mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Tài liệu là mẫu tham khảo trực quan về phương pháp xây dựng một khóa luận tốt nghiệp gắn liền giữa công tác phục vụ sản xuất thực tế tại trang trại và nghiên cứu chuyên đề khoa học. Sinh viên có thể tham khảo quy trình theo dõi các chỉ tiêu dịch tễ (tỷ lệ mắc theo đàn, theo lứa tuổi, theo mùa vụ, theo tính biệt) và cách tính toán các chỉ số thống kê sinh vật học.
  • Kỹ thuật viên trang trại và người chăn nuôi lợn: Cung cấp số liệu thực tế về các giai đoạn nguy cơ cao của đàn lợn thịt đối với hội chứng hô hấp, đặc biệt là giai đoạn 4 - 5 tháng tuổi (tỷ lệ mắc đạt 27,95%) và thời điểm thời tiết chuyển mùa tháng 7, tháng 10. Từ đó, người quản lý trang trại có thể chủ động điều chỉnh lịch tiêm vaccine phòng suyễn (Mycoplasma lúc 5 - 7 ngày tuổi, vaccine hô hấp lúc 2,5 tháng tuổi), tăng cường mật độ thông gió và kiểm soát nồng độ khí độc NH3, H2S trong chuồng nuôi.
  • Cơ sở thú y điều trị: Cung cấp dẫn chứng thực tế về hiệu quả can thiệp điều trị của phác đồ kết hợp kháng sinh chuyên biệt đường hô hấp (Sun - Tylan, Tiamulin 10%) với thuốc điều trị triệu chứng (Analgin hạ sốt, Bromhexin giãn phế quản long đờm) và vitamin trợ sức, đạt tỷ lệ hồi phục gần 90%.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở đàn lợn thịt tại trại Tích Lương được ghi nhận ở mức độ nào?
Khảo sát thực tế trên toàn bộ 398 lợn thịt thuộc 38 đàn tại trại Tích Lương cho thấy tỷ lệ đàn mắc bệnh rất cao, lên tới 92,10% (35/38 đàn). Tỷ lệ cá thể mắc bệnh chung là 17,08% (68/398 con).

2. Tại sao dãy chuồng số 3 lại có tỷ lệ lợn mắc bệnh hô hấp cao vượt trội (27,27%) so với dãy 1 (10,48%) và dãy 2 (15,86%)?
Dãy chuồng số 3 được xây dựng từ lâu nên cơ sở vật chất đã xuống cấp, các ô chuồng không có thiết kế ngăn thải phân riêng, thiếu hệ thống quạt thông khí khiến nồng độ khí độc (NH3, H2S) tích tụ ở mức cao. Ngoài ra, dãy chuồng này không có rèm che chắn tốt khi thời tiết mưa gió, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển và xâm nhập vào hệ hô hấp của lợn.

3. Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở đàn lợn thịt biến động theo lứa tuổi và theo các tháng như thế nào?

  • Theo lứa tuổi: Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo thời gian nuôi, thấp nhất ở giai đoạn cai sữa đến 2 tháng tuổi (9,09%), tăng lên 12,00% ở giai đoạn 2 - 3 tháng tuổi, 21,05% ở giai đoạn 3 - 4 tháng tuổi và cao nhất ở giai đoạn 4 - 5 tháng tuổi (27,95%).
  • Theo tháng: Tỷ lệ mắc cao nhất vào tháng 7 (4,02%) do thời tiết nắng nóng, mưa nhiều, độ ẩm cao; thấp nhất vào tháng 6 và tháng 9 (đều ở mức 3,02%) khi thời tiết mát mẻ; sau đó tăng trở lại vào tháng 10 (3,77%) do thời tiết chuyển mùa từ thu sang đông với chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn.

4. Khóa luận đã thử nghiệm và đánh giá những phác đồ kháng sinh nào trong điều trị hội chứng hô hấp?
Tác giả thử nghiệm 2 phác đồ: Phác đồ 1 dùng kháng sinh Sun - Tylan (tiêm bắp 1 ml/10 kg thể trọng, tác dụng kéo dài 60 giờ); Phác đồ 2 dùng kháng sinh Tiamulin 10% (tiêm bắp 1 - 1,5 ml/10 kg thể trọng/ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày). Cả hai phác đồ đều phối hợp với thuốc hạ sốt, giảm đau Navet-Analgin C, thuốc long đờm giãn phế quản MD-Bromhexin và bổ sung Vitamin C, B.complex. Kết quả điều trị hội chứng hô hấp tại trại đạt tỷ lệ khỏi bệnh từ 89,06% đến 89,70%.

5. Trong thời gian thực tập phục vụ sản xuất, tác giả đã hoàn thành các chỉ tiêu kỹ thuật chăn nuôi và phòng bệnh nào?
Tác giả đã hoàn thành 100% an toàn công tác tiêm vaccine phòng 6 bệnh truyền nhiễm (Dịch tả 152 con, Phó thương hàn 95 con, Lở mồm long móng 97 con, Tụ - Dấu 96 con, Suyễn 88 con, Hội chứng sinh sản 85 con); thực hiện bổ sung sắt, bấm tai, thiến cho 128 lợn con; đỡ đẻ an toàn 14 ca; thụ tinh nhân tạo thành công cho 6 nái; điều trị khỏi 46/50 ca tiêu chảy (92%), 10/10 ca ghẻ (100%) và 3/3 ca viêm tử cung (100%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn An Đông đã phản ánh trung thực và toàn diện bức tranh dịch tễ học của hội chứng bệnh đường hô hấp trên đàn lợn ngoại nuôi thịt tại Trại lợn Tích Lương, thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 11/2013. Công trình xác định rõ quy luật phát sinh bệnh theo đàn (92,10%), theo lứa tuổi (tăng dần và đạt đỉnh 27,95% ở giai đoạn 4 - 5 tháng tuổi), theo diễn biến thời tiết (tăng cao vào mùa nóng ẩm tháng 7 và giao mùa tháng 10), đồng thời chứng minh vai trò quyết định của điều kiện vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi. Bên cạnh việc kiểm chứng hiệu quả thực nghiệm của các phác đồ kháng sinh đặc trị kết hợp điều trị triệu chứng đạt tỷ lệ hồi phục gần 90%, tác giả đã hoàn thành khối lượng lớn công tác kỹ thuật chăn nuôi thú y tại cơ sở và đề xuất các giải pháp quản lý dịch bệnh mang tính thực tiễn cao cho các trang trại chăn nuôi lợn tập trung.