CHƯƠNG 1. Khái niệm chuỗi cung ứng 1. Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng 1. Quàn trị chuỗi cung ứng là sự kế thừa và phát triển của học thuyết quàn trị 1.
Quản trị chuỗi cung ứng và logistics 1. Cấu trúc chuỗi cung ứng và chiến lược chuỗi cung ứng 1. Các xu hướng quản trị chuỗi cung ứng 1. KHÁI NIỆM CHUÓI CUNG ỨNG Khái niệm chuỗi cung ứng ngày nay bắt nguồn từ khái niệm “chuồi giá trị” được giới thiệu bởi giáo sư Trường Kinh doanh Harvard, Michael Porter, vào nhũng năm 1980.
Michael Porter giải thích rằng chúng ta không thể hiểu được lợi thế cạnh tranh của một công ty chi bằng cách xem xét các hoạt động, giao dịch diễn ra trong nội bộ công ty. Thay vào đó, lợi 1 thế cạnh ưanh của nó đến từ nhiều hoạt động riêng biệt mà một công ty thực hiện và mỗi hoạt động này đóng góp vào tổng giá trị của công ty. Khái niệm về từng hoạt động riêng biệt đóng góp vào tổng giá trị đã được mở rộng thành khái niệm chuỗi cung ứng. Trên thực tế, người ta thường nói răng không phải các công ty cạnh tranh với nhau.
Thay vào đó, chính chuỗi cung ứng của họ cạnh tranh. Sanders (2018), chuỗi cung ứng là mạng lưới của tất cả các thực thể tham gia vào quá trinh sàn xuất và phân phối thành phẩm cho khách hàng cuối cùng. Điều này bao gồm quy trình tìm nguồn nguyên liệu thô và các bộ phận linh kiện; quy trình chế tạo, sản xuất, lắp ráp sản phẩm; quy trình bảo quản hàng hóa trong kho; quy trình nhập và theo dõi đơn hàng; quy trình phân phối và giao hàng cho khách hàng cuối cùng. Chopra (2016) cho rằng chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các bên liên quan, trực tiếp hoặc gián tiếp, trong việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chi bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn cà nhà vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và cả chính khách hàng. Trong mỗi tổ chức, chăng hạn như nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các bộ phận chức năng liên quan đến việc tiếp nhận và đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Các chức năng này thực hiện những công việc như phát triển sàn phẩm mới, tiếp thị, sàn xuất, phần phối, tài chính, và dịch vụ khách hàng. Một chuỗi cung ứng điển hình có thể liên quan đến nhiều đối tác thương mại khác nhau, được gọi là các thành viên, bao gồm: • Nhà cung cấp • Nhà sàn xuất • Nhà phân phối • Nhà bán lè • Khách hàng Chuỗi cung ứng là một thể động vì trong chuỗi cung ứng luôn diễn ra các hoạt động phát sinh liên tục liên quan đến dòng thông tin, dòng sản phẩm và dòng tiền giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng.
Một chuỗi cung ứng đơn giản được minh họa như Hình 1.ỉ Mô hình một chuỗi cung ứng giản đon Nguồn: Nada R. Sanders (2018, tr 3) Các dòng chày trong chuỗi cung ứng bắt đầu từ các nhà cung cấp qua việc vận chuyển nguyên liệu thô và linh kiện cho nhà sản xuất. Các nhà sản xuất chế biến những nguyên liệu này thành các sàn phẩm hoàn chinh và vận chuyển chúng đến các trung tâm phân phối hoặc các nhà bán buôn. Tiếp theo, các sản phẩm được chuyển đến các nhà bán lẻ đế bán cho khách hàng cuối cùng.
Mỗi chuỗi cung ứng đều khác nhau ở cấu trúc và số lượng các thành viên trong chuỗi cung ứng. Trên thực tế, số lượng các thành viên là một đặc điểm của chuỗi cung ứng và thiết kế phù hợp của nó sẽ phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng, vai trò của các thành viên liên quan và giá trị mà mỗi thành viên cung cấp. Theo Chopra (2016), chuỗi cung ứng luôn chịu áp lực tài chính ngày càng tăng và các thành viên không tạo thêm giá trị cho chuỗi cung ứng sẽ nhanh chóng bị bỏ qua hoặc loại bỏ. Vì vậy, chuỗi cung ứng còn được xem là chuỗi giá ưị hoặc mạng giá trị.2 Mô hình một chuỗi cung ứng nhiều cấp Nguồn: Nada R.
Quy trình hoạt động kinh doanh là tập hợp các bước được cấu trúc hợp lý nhằm đạt mục tiêu đề ra với nguồn sử dụng hiệu quả nhất. Các quy trình hoạt động được thực hiện xuyên suốt các công ty trong chuỗi qua sự tham gia của các bộ phận chức năng trong toàn chuỗi. QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ÚNG 1. Góc nhìn quản lý các mối quan hệ (Relationship view) Hoạt động điều phối (Coordination) Nếu Michael Porter là người đưa ra khái niệm “chuỗi giá trị” từ đó được phát triển thành khái niệm chuỗi cung ứng thì Henry Fayol là người đầu tiên đặt nền tàng lý thuyết cho quản trị chuỗi cung ứng.
Henry Fayol xác định năm chức năng của quàn trị, gồm: hoạch định (planning), tổ chức (organizing), lãnh đạo (leading), kiểm tra (controlling), và điều phối (coordinating). Trong năm chức năng trên thì bốn chức năng đầu là hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, và kiểm tra là khuôn mẫu và thường được đề cập đến trong các sách về quản trị. 4 Chức năng điều phối chỉ mới được đề cập đến khi tư duy và khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng xuất hiện vào năm 1980, khởi đầu bằng lời phát biểu của giáo sư Michael Porter về chuỗi giá trị, cùng với những sự bùng nổ về công nghệ thông tin - Internet, nhất là cuộc cách mạng về vận chuyển hàng hóa bằng tàu container, và xu hướng toàn cầu hóa xuất hiện. Hoạt động điều phổi có phạm vi rộng hàm chứa sự kết nối giao dịch vượt ra ngoài phạm vi của một công ty.
Đó là sự kết nối các hoạt động giữa các công ty trong chuỗi cung ứng. Hoạt động hợp tác (collaboration) Để có được sự điều phối nhịp nhàng các hoạt động diễn ra trong chuỗi cung ứng thì phải có sự hợp tác trong mọi hoạt động của các thành viên trong chuỗi cung ứng. Hoạt động chia sẻ thông tin (information sharing) Hoạt động điều phối và hợp tác ưong chuỗi cung ứng chỉ có thể thành hiện thực và diễn ra hiệu quả khi có sự chia sẻ thông tin của các thành viên trong toàn chuỗi cung ứng. Một điều quan trọng là các hoạt động chia sẻ thông tin, điều phối, và hợp tác phải dựa ưên nền tàng là các kết nối băt nguồn từ mối quan hệ tốt đẹp giữa các chù doanh nghiệp, nhà quản lý trong chuỗi cung ứng.
Không có mối quan hệ tốt thì không có sự đồng thuận, thỏa thuận hợp tác, điều phối và chia sè thông tin. Mối quan hệ không tự mà có và cũng không mua được; các thành viên phải tự tìm kiếm, gìn giữ, củng cố phát ưiển và nâng tầm mối quan hệ. Mối quan hệ có thể bắt đầu bằng một cuộc điện thoại, một bức thư điện tử - email, một tấm thiệp chúc mừng, hay một cuộc hẹn gặp gỡ giao lưu ưong xã hội qua nhiều hình thức khác nhau; từ đó, các thành viên được gia nhập và chuỗi cung ứng được hình thành phát triển thông qua chia sẻ thông tin, hợp tác và điều phối giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Sanders (2018) quản trị chuồi cung ứng thực chất là quản trị các mối quan hệ phát sinh giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng.
5 • Quàn trị mối quan hệ khách hàng (CRM-Customer relationship management) • Quàn trị mối quan hệ nhà cung cấp (SRM-Supplier relationship management) • Quàn trị mối quan hệ nội bộ trong công ty (ISCM-Intemal supply chain management) 1. Góc nhìn quản lý các giao dịch (transactions view) Dựa trên mối quan hệ tốt đẹp, các dòng chày vật chất là dòng thông tin, dòng sản phẩm và dòng tiền liên tục luân chuyển trong chuỗi cung ứng giữa các thành viên thông qua các giao dịch. Do đó, việc quản lý hiệu quả các giao dịch thuộc các dòng này là chìa khóa thành công của quản trị chuỗi cung ứng. Sanders (2018), quản trị chuỗi cung ứng (SCM) là việc thiết kế và quản lý các dòng sàn phẩm, dòng thông tin và dòng tiền trong toàn bộ chuồi cung ứng.
Nó liên quan đến sự phối hợp và quản lý tất cả các hoạt động của chuỗi cung ứng. Góc nhìn hệ thống (system thinking) Như đã đề cập, chuỗi cung ứng nên được xem là tập hợp các quy trình hoạt động kinh doanh (Business Process); vì thế, quản trị chuỗi cung ứng là quản lý hiệu quà hệ thống các quy trình hoạt động kinh doanh diễn ra xuyên suốt các công ty qua sự tham gia của các bộ phận chức năng trong toàn chuỗi nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng mục tiêu mà chiến lược cạnh tranh đề ra. QUẢN TRỊ CHUÔI CUNG ỨNG LÀ sự KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẺN CỦA HỌC THUYÉT QUẢN TRỊ Quàn trị chuỗi cung ứng là sự kế thừa và phát triển của học thuyết quản trị vì lý thuyết nền của quản trị chuỗi cung ứng đã được Fayol đề cập trong cuốn sách có tiêu đề “General and Industrial Management” vào năm 1930. Trong cuốn sách trên, Fayol đã chỉ ra năm chức năng chính của quản trị là hoậch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra, và điều phối.
Tuy nhiên, chức năng điều phối đã không được đề cập và ứng dụng vào thực tế suốt một thời gian dài. Cho đến khi những yếu tố vật chất hữu hình phát triển thì tư 6 tưởng và học thuyết quàn trị này mới được ứng dụng vào thực tế. Đó là khi bùng nổ sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng Internet tạo sự kết nối các đối tác thương mại toàn cầu. Cùng với cuộc cách mạng về vận chuyển hàng hóa bằng tàu container làm cước phí vận tải rẻ hơn rất nhiều, hàng hóa được bảo quản tốt hơn vì mỗi loại hàng hóa được đóng vào container riêng biệt, thích hợp với đặc tính của hàng hóa đó, và nhất là có thể vận chuyển nhiều chủng loại hàng hóa trên một con tàu.
Quan trọng không kém là chính sách toàn cầu hóa được chính phủ các nước áp dụng trên phạm vi toàn cầu qua việc liên tục ký kết các hiệp định thương mại như FTA, WTO, CPTPP, EVFTA. Toàn cầu hóa mang lại cho khách hàng tiêu dùng nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm, dịch vụ hơn, nhưng cũng đồng nghĩa với việc các nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ chịu áp lực cạnh tranh nhiều hơn. Đó là thời điểm chín mùi khiến các công ty phải tìm một vũ khí cạnh tranh mới giúp họ đứng vững trước sức cạnh tranh ngày càng tăng; đây là lúc lý thuyết quản trị học được ứng dụng vào thực tế cuộc sống và tư duy quản trị chuỗi cung ứng được hình thành và phát triển giúp các công ty tồn tại trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ÚNG VÀ LOGISTICS Nhiều người nhầm lẫn quản trị chuỗi cung ứng (SCM - Supply Chain Management) với logistics.