CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LUẬT HÀNH CHÍNH Giới thiệu: Ngành Luật hành chính là ngành luật điều chỉnh các hoạt động hành chính nhà nước cụ thể là điều chỉnh những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động hành chính nhà nước Mục tiêu: - Nắm bắt một số ngành luật về quản lý nhà nước Nội dung chính: 1. Luật hành chính - Một ngành luật về quản lý Nhà nước Luật hành chính là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Cách định nghĩa này phù hợp với quan niệm cho rằng việc phân biệt các ngành luật trước hết cần căn cứ vào những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước không thể tách rời những quan hệ xã hội mà nó hướng tới nhằm ổn định hay thay đổi cho nên đối tượng điều chỉnh của luật hành chính không phải là bản thân quản lý hành chính nhà nước mà là những quan hệ xã hội hình thành trong quá trình hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Việc phần lớn các quy phạm pháp luật hành chính liên quan đến các hình thức tổ chức, đến hoạt động quản lý hành chính nhà nước không thay đổi một thực tế là chứng bắt nguồn từ những quan hệ xã hội. Luật hành chính giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hoạt động chấp hành - điều hành của Nhà nước. Các quy phạm luật hành chính quy định địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính nhà nước, xác định những nguyên tắc cơ bản Định nghĩa trên thích hợp với tất cả mọi trường hợp từ sự vận động của một cơ thể sống, một vật thể cơ giới, một thiết bị tự động hóa đến hoạt động của một tổ chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan nhà nước. Trong chương trình luật hành chính, vấn đề cần nghiên cứu là quản lý xã hội, quản lý nhà nước.
Các Mác đã coi “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”. Nhấn mạnh nội dung trên, ông viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Luận điểm trên của Mác có thể áp dụng với mọi hoạt động chung của con người trong xã hội.
Ở đâu có sự hợp tác của nhiều người, ở đó cần có quản lý, bởi vì hoạt động chung của nhiều người đòi hỏi phải được liên kết lại dưới nhiều hình thức. Một trong những hình thức liên kết quan trọng là tổ chức. Xét về nội dung, tổ chức tức là phối hợp, liên kết hoạt động của nhiều người để thực hiện mục tiêu đã đề ra, là yếu tố quyết định đem lại hiệu quả cho quản lý. Không có tổ chức thì không có quản lý.
3 Khẳng định vấn đề này, Lênin đã viết: “Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa”. Để điều khiển, phối hợp hoạt động của tập thể những con người Khách thể của quản lý là trật tự quản lý. Trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm khác nhau: Quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật V. Tóm lại: - Quản lý là sự tác động cố mục đích của các chủ thể quản lý đối vói các đối tượng quản lý.
- Quản lý xuất hiện ở bất kì nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người. - Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất nhằm đạt được mục tiêu đã định trước. - Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy. Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung.
Có quyền uy thì mới bảo đảm sự phục tùng của cá nhân đối vói tổ chức. Quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình. 2 Tương quan giữa Luật hành chính với một số ngành luật trong hệ thống pháp luật VN – Hành chính với Hiến pháp: đối tượng điều chỉnh của luật hiến pháp rộng hơn o Luật hành chính cụ thể hóa, chi tiết hóa và bổ xung các quy định của Hiến pháp; o Luật hành chính đặt ra cơ chế đảm bảo Luật hiến pháp. – Hành chính với dân sự: Quan hệ chặt chẽ dù 2 ngành luật này điều chỉnh quan hệ về tài sản bằng những phương pháp khác nhau trong nhiều trường hợp các cơ quan quản lý nhà nước cũng tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự: Pháp nhân… – Hành chính với đất đai: Luật hành chính là phương tiện thực hiện luật đất đai.
Trong quan hệ với luật đất đai, Nhà nước có tư cách là chủ sở duy nhất đối với đất đai, quan hệ đất đai chỉ xuất hiện, thay đổi, chấm dứt khi có quyết định của cơ quan Hành chính Nhà nước. Người sử dụng trong quan hệ đất đai là người chấp hành quyền lực Nhà nước. – Hành chính với hình sự: Chặt chẽ có nhiều chỗ giao tiếp: Trong một số trường hợp vi phạm hành chính có thể dẫn tới phải chịu trách nhiệm hình sự. 4 Trình tự xử lý và chủ thể có thẩm quyền xử lý của vi phạm Hành chính và tội phạm khác nhau.
Tội phạm và vi phạm Hành chính khác nhau ở mức độ nguy hiểm của hành vi. Luật hành chính quy định thẩm quyền, cơ cấu tổ chức của cơ quan điều tra hình sự và thi hành án hình sự,… các cơ quan quản lý trại giam. – Hành chính với lao động: quan hệ chặt chẽ Luật hành chính quy định thẩm quyền các cơ quan quản lý lao động. Chính sách lao động tiền lương, an sinh xh được quy định trong Luật hành chính Quan hệ pháp luật hành chính là phương tiện thực hiện quan hệ pháp luật lao động.
Vd: 1 người lao động thi tuyển vào cơ quan Hành chính Nhà nước. Trình tự ban hành, hình thức quyết định do Luật hành chính, Điều kiện kí kết do luật LĐ quy định. Quyết định tuyển dụng do cơ quan Hành chính ban hành. Cả 2 đều điều chỉnh chế độ công vụ, công chức, viên chức Nhà nước.
Khoa học Luật hành chính Khoa học luật hành chính bao gồm: - Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước có liên quan chặt chẽ tới ngành Luật hành chính chẳng hạn như nội dung, vị trí quản lý nhà nước trong cơ chế quản lý xã hội; quan hệ của quyền hành pháp với quyền lập pháp và tư pháp,. - Hệ thống quy phạm Luật hành chính: đặc trưng nội dung, phân loại; vấn đề hoàn thiện các chế định, hệ thống hóa và pháp điển hóa Luật hành chính; cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ hành chính, vấn đề hiệu quả của quy phạm Luật hành chính; - Về quan hệ pháp luật hành chính: nội dung pháp lý, cơ cấu, tương quan giữa các yếu tố nội tại của các quan hệ đó, quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể và cơ chế bảo đảm thực hiện chúng,. - Quy chế pháp lý của các chủ thể luật hành chính, cũng chính là các chủ thể và đối tượng quản lý nhà nước, những bảo đảm pháp lý hành chính của các quyền chủ thể; - Các phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động hành chính,. Theo đó, trên cơ sở nghiên cứu và phát hiện những quy luật điều chỉnh của Luật hành chính đối với các quan hệ hành chính, khoa học luật hành chính đề xuất những kiến nghị khoa học đổi mới tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và phương thức hoạt động của nó, đáp ứng những nhiệm vụ ngày càng nặng nề và phức tạp của công tác cải cách hành chính.
Đồng thời, khoa học luật hành chính Việt Nam có nhiệm vụ làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận cơ bản của Luật hành chính với tư cách một môn học để làm cơ sở cho hoạt động giảng dạy trong các trường và khoa luật, đặc biệt là hệ thống các khái niệm và phạm trù khoa học được sử dụng trong môn học đó. 5 BÀI TẬP : Luật hành chính là gì ? Luật hành chính là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Cách định nghĩa này phù hợp với quan niệm cho rằng việc phân biệt các ngành luật trước hết cần căn cứ vào những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Hoạt động quản lí hành chính nhà nước không thể tách rời những quan hệ xã hội mà nó hướng tới nhằm ổn định hay thay đổi cho nên đối tượng điều chỉnh của luật hành chính không phải là bản thân quản lí hành chính nhà nước mà là những quan hệ xã hội hình thành trong quá trình hoạt động quản lí hành chính nhà nước.
Việc phần lớn các quy phạm pháp luật hành chính liên quan đến các hình thức tổ chức, đến hoạt động quản lí hành chính nhà nước không thay đổi một thực tế là chứng bắt nguồn từ những quan hệ xã hội. Luật hành chính giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hoạt động chấp hành điều hành của Nhà nước. Các quy phạm luật hành chính quy định địa vị pháp lí của các cơ quan hành chính nhà nước, xác định những nguyên tắc cơ bản của Định nghĩa trên thích hợp với tất cả mọi trường hợp từ sự vận động của một cơ thể sống, một vật thể cơ giới, một thiết bị tự động hóa đến hoạt động của một tổ chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan nhà nước Tóm lại: - Quản lí là sự tác động cố mục đích của các chủ thể quản lí đối vói các đối tượng quản lí. - Quản lí xuất hiện ở bất kì nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người.