Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1 Kinh tế học phát triển 1.1 Khái niệm kinh tế học phát triển Kinh tế học phát triển nghiên cứu sự phát triển của các quốc gia qua các giai đoạn phát triển gắn liền với các chiến lược, điều kiện và nguồn lực phát triển khác nhau. Đặc biệt là sự phát triển dựa vào các lợi thế cạnh tranh quốc gia ở lĩnh vực nào đó. Một quốc gia có thể có thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên như quặng mỏ, khoáng sản hay về khoa học, công nghệ chuyên sâu của một ngành sản xuất nổi trội nào đó, v.v… Nhưng cuối cùng, tựu trung đều được đo lường bởi các chỉ số về tăng trưởng, phát triển kinh tế. Từ đó, việc đo lường cho sự tiến bộ về mặt kinh tế, nghiên cứu tìm hiểu nhằm khám phá nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế khác nhau của mỗi quốc gia… trở thành nhiệm vụ trọng tâm của môn học Kinh tế phát triển.
Không chỉ dừng lại ở đó, Kinh tế phát triển còn đúc kết thành những quy luật, những lý thuyết để có thể ứng dụng vào hoàn cảnh của mỗi nước trong từng giai đoạn tăng trưởng kinh tế. Khi nói về tính chất học thuật của Kinh tế phát triển, người ta thường sử dụng cụm từ Kinh tế học phát triển, môn học này có phạm vi rất rộng, liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế. Nội dung nghiên cứu của môn học không chỉ liên quan đến xác định các nguồn lực, phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực có giới hạn cho việc tăng trưởng và phát triển kinh tế mà còn tác động đến cơ chế chính sách kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của quốc gia, kể cả khu vực công và tư hoặc kết hợp cả công tư trên cơ sở hài hòa lợi ích, nhằm tạo ra sự phát triển tốt cho đất nước.2 Sự cần thiết phải nghiên cứu kinh tế học phát triển Các nhà kinh tế học phát triển nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế các nước trên thế giới một cách có hệ thống từ thế kỷ trước đến nay.
Mỗi nhà nghiên cứu có những ý kiến, quan điểm nhìn nhận khác nhau về bản chất của sự phát triển của mỗi quốc gia. 19 Trên cơ sở những lý thuyết, những mô hình phát triển truyền thống, Kinh tế học phát triển xây dựng nên những lý thuyết, những mô hình hiện đại, áp dụng lịch sử phát triển kinh tế và những bài học kinh nghiệm của các nước phát triển cho các nước đi sau, các nước đang phát triển. Với những mô hình phát triển được đúc kết từ các nước phát triển, vận dụng cho các nước đang phát triển nhằm tránh những sai lầm và phát triển hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc vận dụng không rập khuôn, bởi điều kiện mỗi quốc gia có sự khác nhau, hơn nữa bối cảnh xã hội cũng có nhiều thay đổi so với trước kia.2 Các nước đang phát triển Các quốc gia trên thế giới có mức độ phát triển khác nhau về nhiều mặt, dẫn đến thu nhập, trình độ văn minh và mức sống khác nhau.
Từ thập niên 60 của thế kỷ trước, người ta phân thành hai nhóm nước dựa trên một số tiêu chí cơ bản. Cụ thể, dựa trên các chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ tử vong trẻ em, chỉ số phát triển con người (HDI), người ta chia các nước thành hai nhóm: - Nhóm các nước phát triển: có thu nhập bình quân đầu người trên 20.000 USD/năm, có chỉ số phát triển con người (HDI) từ 0,7 đến gần bằng 1 và có tỷ lệ trẻ em tử vong rất thấp. Nhóm này hiện có khoảng 40 nước. - Nhóm các nước đang phát triển có thu nhập bình quân đầu người dưới 20.000 USD /năm, có chỉ số phát triển con người (HDI) dưới 0,7 và tỷ lệ trẻ em tử vong khá cao.
Nhóm này hiện tại có 145 nước.1 Sự ra đời của các nước đang phát triển Chiến tranh thế giới lần thứ II đã có nhiều cải biến xã hội. Các nước bị đế quốc và thực dân đô hộ đã đấu tranh giải phóng dân tộc. Phong trào này diễn ra mạnh mẽ ở khắp các châu lục. Từ đó trên trường chính trị quốc tế đã xuất hiện một nhóm nước mới: Thế giới thứ ba.
Tên gọi này để phân biệt với các nước “Thế giới thứ nhất” và các nước “Thế giới thứ hai”. “Thế giới thứ nhất” là các nước có nền kinh tế phát triển, đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, đó là đa số các nước Tây Âu. “Thế giới thứ hai” là các nước có nền kinh tế phát triển kém hơn, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, những nước này chủ yếu ở khu vực Đông Âu. Do đặc điểm lịch sử tương đồng và đa số mới giành được độc lập nên các quốc gia thuộc “Thế giới thứ ba”, đã liên kết với nhau, đấu tranh đòi 20 có một trật tự thế giới mới.
Kết quả là năm 1974 Liên hiệp quốc đã ủng hộ thiết lập “trật tự kinh tế quốc tế mới”. Xuất phát từ việc mới giành được độc lập, mức độ phát triển kinh tế còn hạn chế nên các nước thuộc “Thế giới thứ ba” còn được gọi là “các nước đang phát triển”. Khái niệm “các nước đang phát triển” xuất hiện vào thập niên 1960, để phân biệt với các nước phát triển, những nước có nền công nghiệp phát triển. Từ đó, thế giới có hai nhóm nước: các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, ở trong nhiều vấn đề khác nhau, người ta còn phân loại chi tiết hơn dựa trên một số tiêu chí. Ngày 01/7/2012, Ngân hàng Thế giới đã công bố phân loại thu nhập theo GNI bình quân đầu người theo đồng USD (quy đổi theo sức mua tương đương - PPP) gồm các nhóm nước như sau: - Nước có thu nhập thấp: Từ ít hơn đến 1. Nhóm này bao gồm 59 quốc gia. - Nước có thu nhập trung bình thấp: Từ 1.
Nhóm này bao gồm 54 quốc gia. - Nước có thu nhập trung bình cao: Từ 4. Nhóm này bao gồm 38 quốc gia. - Nước có thu nhập cao: Từ 12.476 USD trở lên một năm.
Nhóm này bao gồm 56 quốc gia. Trong quá trình phát triển, các quốc gia luôn cố gắng vươn lên không ngừng, từ đó làm thay đổi vị trí của các quốc gia trong các nhóm.2 Đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển - Mức thu nhập thấp Thực chất các nước đang phát triển là các nước nghèo, có thu nhập thấp, GDP và GNI bình quân đầu người thấp. Từ đó nguồn lực tạo nên phúc lợi xã hội thấp, tích lũy và đầu tư xã hội cũng thấp. Điều đó tất yếu dẫn đến mức sống ở những nước này thấp.
Các quốc gia đang phát triển có đặc điểm chung là nền công nghiệp chưa phát triển, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp lạc hậu. Trong số đó có một số nước đông dân, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, môi trường khắc nghiệt. Đến nay, trên thế giới tồn tại khoảng 100 nước đang phát triển, họ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 2.000 USD/năm, trong đó có khoảng hơn 50 nước có mức thu nhập bình quân dưới 1.000 21 USD/người/năm, đa phần ở châu Phi. Với mức thu nhập đó cho thấy các quốc gia khó có thể trang bị cho người dân có mức sống cao, các điều kiện về y tế, giáo dục, an sinh xã hội sẽ rất hạn chế.
- Mức sống thấp Các nước đang phát triển nói chung, có mức sống thấp và rất thấp. Mức sống thấp biểu thị thông qua: thu nhập thấp, thiếu thốn tiện nghi sinh hoạt, thiếu nhà ở, dân trí thấp, thiếu thốn y tế, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao, tuổi thọ thấp. Ở các nước có mức thu nhập thấp không chỉ có tuổi thọ thấp mà tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em rất cao, điều đó dẫn đến tỷ lệ tử vong cao đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển thể trạng và sức khỏe sau này. Cơ hội được đến trường ở các nước có thu nhập thấp cũng hạn chế.
Chính phủ các nước này luôn cố gắng tạo ra cơ hội đến trường cho người dân và xóa nạn mù chữ nhưng tỷ lệ biết chữ vẫn rất thấp. - Mức tích luỹ thấp Ở những nước có thu nhập thấp, thu nhập của người dân chỉ lo trang trải cho cuộc sống ở mức tối thiểu, do đó, nếu giảm tiêu dùng để tích lũy là việc làm rất khó khăn và không thể. Thu nhập của người dân thấp dẫn đến nguồn thu của Chính phủ cũng không thể cao đồng thời còn thêm nhiều khoản chi khác cho việc cứu trợ, hỗ trợ… nên cũng ảnh hưởng đến khoản tích lũy và dự trữ của khu vực công. - Năng lực đầu tư thấp Các nước có thu nhập thấp thường không có tích lũy của người dân và dự trữ của Chính phủ thấp nên không có nguồn lực cho đầu tư hoặc nếu có thì cũng rất hạn chế.
Vì thế năng lực đầu tư công cũng như đầu tư tư nhân rất hạn chế ở những nước này. Các quốc gia này thường rơi vào vòng lẩn quẩn: Thu nhập thấp - Tích lũy thấp - Đầu tư thấp - Phát triển kinh tế thấp - Thu nhập thấp. Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia thường tìm đến cứu cánh là thu hút đầu tư nước ngoài với nhiều chính sách ưu đãi và nhượng bộ. - Năng lực kỹ thuật công nghệ thấp Thu nhập thấp không những không có điều kiện đầu tư, mua sắm máy móc, thiết bị công nghệ mà còn không có điều kiện để đầu tư cho hoạt động nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ.
Từ đó, không có cả khoa 22 học công nghệ và kỹ thuật công nghệ để phục vụ cho sản xuất. Do vậy, các quốc gia này thường phát triển với nền sản xuất nhỏ lạc hậu, kể cả khu vực nông nghiệp lẫn công nghiệp. Sản phẩm được sản xuất ra với năng suất thấp, chất lượng thấp, chi phí cao, kém phong phú và đa dạng. Từ đó làm cho sức cạnh tranh kém so với sản phẩm các nước khác, không xuất khẩu được.
Cũng từ đó cho thấy, sản phẩm xuất khẩu của các quốc gia thu nhập thấp chủ yếu là khoáng sản, nguyên liệu chưa chế biến hoặc ở mức sơ chế, không có giá trị cao, gây thiệt thòi, bất lợi. Trong khi đó các nước giàu, có nền kinh tế phát triển có trình độ kỹ thuật công nghệ tiên tiến hiện đại, sản xuất sản phẩm chất lượng cao, giá trị cao, thu về nhiều lợi nhuận.