BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH Giáo viên biên soạn: Bùi Thị Thúy Hằng GIÁO TRÌNH KHOA HỌC QUẢN LÝ DÙNG CHO BẬC ĐẠI HỌC (LƯU HÀNH NỘI BỘ) QUẢNG NINH - 2020 KHOA HỌC QUẢN LÝ – ĐHCNQN – 2020 Quản lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì và phát triển tổ chức ở mọi cấp độ, mọi loại hình. Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Từ đó cho thấy quản lý là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển hay trì trệ diệt vong của mọi tổ chức. Tổ chức chỉ có thể tồn tại và phát triển khi nó được tiến hành các hoạt động của mình phù hợp với yêu cầu của các quy luật có liên quan.
Vai trò của quản lý trong đời sống xã hội Trong đời sống kinh tế - xã hội, vấn đề quản lý trở nên hết sức phức tạp. Quản lý có mặt ở tất cả mọi nơi, mọi lúc, mọi công việc có nhiều người tham gia như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động của các tổ chức xã hội, trong hoạt dộng dân sự, quân sự,. mà ở đó, số cá thể có thể lên đến hàng trăm, hàng nghìn thậm chí hàng vạn, triệu người, khi đó độ phức tạp của một tổ chức lại tăng lên theo cấp số nhân của số thành viên của tổ chức. Chẳng hạn, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh – nền tảng của quản lý xã hội, nhất là đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, số lao động lên đến hàng nghìn, hàng vạn người, có nhiều quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích,.
được đặt trong môi trường kinh tế thị trường lại càng phức tạp hơn. Việc quản lý các tổ chức phi kinh doanh như quân đội, trường học bệnh viện,. do đặc điểm hoạt động riêng của từng lĩnh vực mà việc quản lý cũng có đặc thù và phức tạp nhất định. Trong các loại quản lý thì quản lý xã hội là phức tạp nhất.
Một mặt, xã hội là một hệ thống trên của kinh tế, bao gồm toàn bộ các hoạt động cả về kinh tế, chính trị, hành chính,. nên nó chứa đựng tất cả những sự phức tạp của các đối tượng phải quản lý. Mặt khác, trong quản lý xã hội không chỉ có những mối quan hệ chính thức mà còn có những mối quan hệ không chính thức như quan hệ đạo đức, quan hệ cá nhân, quan hệ xã hội nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các đối tượng, các quan hệ như quan hệ kinh tế với quan hệ đạo đức, giữa quan hệ kinh tế với quan hệ hành chính, quan hệ pháp lý,.
làm cho việc quản lý càng phức tạp và khó khăn hơn. Với nội dung rộng lớn và đa dạng của quản lý, để làm rõ vai trò của nó, cần tiếp cận ở hai cấp độ: * Tiếp cận vai trò của quản lý theo từng đặc trưng nổi bật của nó: A. Đam Smith - nhà kinh tế học Cổ điển Anh, thế kỉ XVIII nhấn mạnh tới vai trò của phân công lao động đối với hiệu quả của sản xuất. Ông cho rằng: Lao động chung mang lại hiệu quả lớn hơn lao động cá thể là nhờ có sự phân công lao động hợp lí vì 3 lý do cơ bản: 1) Kỹ năng của người lao động được nâng cao; 2) Tiết kiệm được thời gian vì không phải chuyển từ công việc này sang công việc khác; 3) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư khoa học - kỹ thuật nhằm cải tiến công cụ sản xuất.
Giáo viên biên soạn: Bùi Thị Thúy Hằng Page 2 KHOA HỌC QUẢN LÝ – ĐHCNQN – 2020 Các Mác phát triển các tư tưởng của A. Đam Smith và khẳng định lao động tập thể được tổ chức hợp lý bao giờ cũng mang lại hiệu quả lớn hơn lao động cá thể điều đó có được là nhờ ngoài việc phân công lao động hợp lý, lao động tập thể còn tạo ra bầu không khí thi đua và từ đó kích thích tinh lực của người lao động. Các Mác còn đặc biệt đánh giá cao vai trò của "ý chí điều khiển" trong hoạt động chung và đồng thời coi tác nhân quản lý có vai trò như là "nhạc trưởng" của dàn nhạc. Lênin luôn đề cao sức mạnh to lớn của công tác tổ chức trong tiến trình cách mạng của giai cấp vô sản.
Ở thời kỳ non trẻ và khó khăn của cách mạng Nga, ông đã đưa ra một luận điểm quan trọng: “hãy cho tôi một tổ chức của những người cộng sản, tôi sẽ làm đảo lộn cả nước Nga”. Và không phải ngẫu nhiên, trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng trật tự xã hội mới, V. Lênin luôn kêu gọi và yêu cầu các nhà máy, công xưởng của Chính quyền Xô Viết muốn đạt năng suất cao thì phải học tập và áp dụng mô hình quản lý của Taylor. Các chuyên gia Nhật Bản đưa ra học thuyết về "nhân tố thứ tư" để khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của quản lý.
Quản lý được coi là nhân tố thứ tư như là nhân tố nối kết 3 nhân tố trong các xã hội truyền thống (tư bản, ruộng đất và lao động) và đóng vai trò là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội hiện đại. *Tiếp cận tổng thể về vai trò của quản lý: Quản lý là một hoạt động hay là một hình thức lao động đặc biệt. Nó lấy các hoạt động cụ thể làm đối tượng để tác động vào nhằm định hướng, thiết kế, duy trì, phát triển, điều chỉnh và phối hợp các hoạt động đó thành một hợp lực để hướng tới hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Chính vì vậy, xét về mặt tổng thể hay xét như một quy trình, quản lý có những vai trò sau: - Thứ nhất, vai trò định hướng: Nhờ có hoạt động quản lý với tư cách là ý chí điều khiển một cộng đồng người, một tổ chức người mà nó có thể hướng các hoạt động của các thành viên theo một véctơ chung.
Vai trò định hướng của hoạt động quản lý được biểu hiện chủ yếu thông qua chức năng lập kế hoạch. Bản chất của lập kế hoạch chính là xác định mục tiêu, các phương án và nguồn lực thực hiện mục tiêu. Việc xác định mục tiêu đúng đắn, phù hợp sẽ giúp cho tổ chức vận hành, phát triển đúng hướng và đồng thời ứng phó với sự bất định của môi trường. - Thứ hai, vai trò thiết kế: Để thực hiện mục tiêu với các phương án và các nguồn lực đã được xác định thì cần phải có "kịch bản".
Chính vì vậy, thông qua chức năng tổ chức mà các hoạt động quản lý sẽ thực hiện vai trò thiết kế của nó. Vai trò thiết kế liên quan tới các nội dung: Xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định biên chế, phân công công việc, giao quyền và chuẩn bị các nguồn lực khác. Thực hiện tốt những nội dung này là tiền đềvà điều kiện đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động quản lý. - Thứ ba, vai trò duy trì và thúc đẩy: Vai trò duy trì và thúc đẩy được thể hiện qua chức năng lãnh đạo của quytrình quản lý.
Nhờ có hệ thống nguyên tắc quản lý (nội quy, quy chế) mới có thể bắt buộcchủ thể quản lý và đối tượng quản lý hoạt động trong giới hạn quyền lực và thẩm quyền của họ. Đây là nhân tố đặc Giáo viên biên soạn: Bùi Thị Thúy Hằng Page 3 KHOA HỌC QUẢN LÝ – ĐHCNQN – 2020 biệt quan trọng góp phần tạo nên kỷ luật, kỷ cương tính ổn định, bền vững của một tổ chức. Thông qua hệ thống chính sách về nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực phù hợp và phong cách quản lý hợp lý, hoạt động quản lý là tác nhân tạo ra động cơ thúc đẩy từ đó phát huy cao nhất năng lực của người lao động và tạo điều kiện cho họ khả năng sáng tạo cao nhất. - Thứ tư, vai trò điều chỉnh: Thông qua chức năng kiểm tra mà hoạt động quản lý thể hiện vai trò điều chỉnh của nó.
Với hệ thống các tiêu chí được xây dựng để đo lường các kết quả hoạt động của tổ chức để đưa ra các giải pháp nhằm điều chỉnh những sai lệch, sửa chữa những sai lầm, từ đó đảm bảo cho tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu đã đề ra. - Thứ năm, vai trò phối hợp: Thông qua các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm ta mà hoạt động quản lý biểu hiện vai trò phối hợp của nó. Bản chất của hoạt động quản lý là nhằm phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin,.) để có được sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện mục tiêu chung mà sự nỗ lực của một cá nhân không thể làm được. Ngày nay, quản lý không chỉ diễn ra trong phạm vi từng doanh nghiệp, từng đơn vị, từng quốc gia mà còn lan rộng ra trên phạm vị toàn cầu nhằm giải quyết những vấn đề chung nảy sinh như vấn đề dân số, môi trường, chiến tranh, dịch bệnh,.
mà một quốc gia riêng lẻ không thể giải quyết được nên có những tổ chức quản lý theo vùng, theo khu vực và toàn cầu. Do đó có thể kết luận rằng, nơi nào có hoạt động chung thì nơi đó có quản lý. Tác dụng của quản lý được thể hiện cụ thể sau: - Quản lý nhằm tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức, bao gồm các thành viên của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau và giữa những người bị quản lý với người quản lý. Chỉ có thể tạo nên sự thống nhất trong quản lý thì mới đạt được kết quả mong muốn.
- Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung của tổ chức và hướng mọi nỗ lực của cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu chung đó. - Tổ chức, điều hòa phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt mục tiêu quản lý. - Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kính thích, đánh giá, khen thưởng những người có thành tích, uốn nắn những lệch lạc, sai sót của họ nhằm giảm bớt những tổn thất, sai lệch trong quá trình quản lý. - Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả.
Kinh tế Có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế. - Có người cho kinh tế là hoạt động sinh sống: Kinh tế trang trại, kinh tế cá thể, kinh tế thị trường,.