Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện. Thực trạng về quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn huyện Võ Nhai.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về thu ngân sách nhà nước cấp huyện 1. Hệ thống ngân sách nhà nước Theo khoản 14 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015 nêu khái niệm về ngân sách nhà nước như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [21, tr10]. Xét về phạm vi, ngân sách nhà nước bao gồm: Thu ngân sách nhà nước.
chi ngân sách nhà nước, bội chi ngân sách nhà nước và tổng mức vay của ngân sách nhà nước (Điều 5 Luật Ngân sách nhà nước 2015). Trong đó, thu ngân sách nhà nước bao gồm: - Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí. - Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. - Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương.
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Về phân cấp, ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương. Ngân sách trung ương gồm các đơn vị dự toán của các cơ quan trung ương (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ.
Tổ chức xã hội thuộc trung ương, tổ chức đoàn thể trung ương,…). Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, cụ thể: 10 - Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; - Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã, phường, thị trấn; - Ngân sách các xã, thị trấn. Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề thu ngân sách nhà nước cấp huyện.
Khái niệm và vai trò của thu ngân sách nhà nước cấp huyện * Khái niệm thu ngân sách nhà nước cấp huyện: Ngân sách nhà nước là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Từ khi nhà nước ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khoá bắt buộc người dân phải đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của nhà nước. Lúc đầu, nhà nước sử dụng nó để nuôi bộ máy chính quyền nhà nước, sau đó phạm vi sử dụng được mở rộng dần theo sự phát triển các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Ngày nay, nhà nước còn dùng quỹ NSNN để chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế. Điều này kéo theo việc thu NSNN ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Thu NSNN có thể được hiểu là: “Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu của Nhà nước” [1, tr11]. Thu NSNN được lấy từ mọi lĩnh vực KT - XH khác nhau.
Bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Trong đó, thuế là hình thức thu phổ biến dựa trên tính cưỡng chế là chủ yếu. Thực chất, thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. Đồng thời thu NSNN cũng là một kênh phân phối thu nhập quốc dân trong hệ thống tài chính quốc gia.
Về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền nhà nước huy 11 động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Về bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính nhằm hình thành quỹ tiền tệ của nhà nước. Do đó, thu ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực công để tập trung một bộ phận của cải xã hội hình thành nên quỹ NSNN phục vụ chi dùng của Nhà nước. Hiện nay, theo Luật NSNN (2015) thì “NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương”.
Trong đó, ngân sách địa phương bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Theo Bộ Tài chính, thì "Ngân sách cấp huyện là quỹ tiền tệ tập trung của cấp huyện được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi cấp huyện" [21, tr 3] Như vậy, thu NSNN cấp huyện có thể hiểu là toàn bộ các khoản thu mà chính quyền cấp huyện huy động vào quỹ ngân sách trong một thời kỳ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Nó chỉ bao gồm những khoản thu, mà chính quyền địa phương huy động vào ngân sách, không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả cho đối tượng nộp. * Vai trò của thu ngân sách nhà nước cấp huyện Việc thu ngân sách nhà nước cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc điều tiết kinh tế phát triển kinh tế, kích thích phát triển sản xuất ở địa phương.
Thông qua việc thu ngân sách nhà nước cấp huyện, chính quyền địa phương có thể tham mưu với các cơ quan lãnh đạo cấp trên về việc phân bổ các nguồn thu, chi ngân sách nhà nước ở địa phương một cách hợp lý. Có chính sách hỗ trợ, giảm thuế và các khoản phải thu đối với các ngành nghề kinh tế chủ đạo ở địa phương để thu hút đầu tư phát triển kinh tế địa phương, khai thác các thế mạnh của vùng, góp phần định hướng phát triển kinh tế địa phương chuyển dịch theo cơ cấu kinh tế mới. Thu ngân sách nhà nước cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề văn hoá - xã hội ở địa phương. Thông qua sự điều chỉnh của HĐND và UBND tỉnh về các chính sách thuế và phân bố dự toán ngân sách cấp huyện để làm căn cứ thực hiện tốt các chính sách trợ cấp xã hội, trợ giá, kế hoạch hoá dân số, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở địa phương.
Trên cơ sở đó, khai thác tốt các thể mạnh văn hoá, xã hội ở địa phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nâng cao hiệu quả sản xuất và khai thác sức lao động của người lao động ở mỗi địa phương. 12 Thu ngân sách nhà nước cấp huyện góp phần xây dựng, thực hiện các phần kế hoạch kinh tế - xã hội của nhà nước từ cấp cơ sở. Làm tốt công tác thu ngân sách cấp huyện là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại phát triển hay trì trệ của toàn thể bộ máy chính quyền. Thông qua thu ngân sách mà nguồn thu của các cấp chính quyền được tập trung nhằm tạo lập quỹ ngân sách để duy trì hoạt động của mình.
Các quỹ ngân sách này được sử dụng để trả lương cho cán bộ, công chức, trang trải các chi phí quản lý kinh tế địa phương, hỗ trợ phát triển kinh tế, trợ cấp xã hội, phát triển văn hoá, giáo dục. nhằm góp phần thực hiện vào kế hoạch kinh tế - xã hội chung của đất nước. Phân loại các khoản thu ngân sách nhà nước cấp huyện Phân loại thu NSNN là sự sắp xếp các nguồn thu thành các nhóm theo những tiêu thức nhất định nhằm đáp ứng những yêu cầu về nghiên cứu, phân tích kinh tế và quản lý ngân sách. Việc phân loại các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN.
Hiện tại, nước ta đang phân loại các khoản thu NSNN theo các tiêu thức sau: Căn cứ theo nguồn hình thành: Thu NSNN bao gồm: - Thu từ thuế, phí và lệ phí do các tổ chức, cá nhân phải nộp theo quy định của pháp luật. - Thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước. Khoản thu này bao gồm các khoản mục thu chủ yếu sau: + Thu nhập từ vốn góp của nhà nước vào các cở sở kinh tế + Tiền thu hồi vốn của nhà nước tại các các cở sở kinh tế + Tiền thu hồi từ các hoạt động cho vay của nhà nước (bao gồm cả gốc và lãi) + Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước. + Thu từ vay nợ và viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân nước ngoài, từ các nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.