GIÁO TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG NGOẠI KHOA 1 MỤC LỤC Bài 1. Vai trò người điều dưỡng ngoại khoa. Chăm sóc người bệnh sốc chấn thương. Nhiễm trùng ngoại khoa và chăm sóc.
Chăm sóc người bệnh bỏng. Chăm sóc người bệnh trước mổ. Chăm sóc người bệnh sau mổ. Chăm sóc người bệnh mổ viêm phúc mạc.
Chăm sóc người bệnh mổviêm ruột thừa. Chăm sóc người bệnh mổ tắc ruột. Chăm sóc người bệnh mổ sỏi đường mật. Chăm sóc bệnh nhân mổ viêm tụy cấp.
Chăm sóc người bệnh mổdạ dày. Chăm sóc người bệnh mổ chấn thương bụng kín. Chăm sóc người bệnh mổ chấn thương ngực. Chăm sóc người bệnh mổ sỏi niệu.
Chăm sóc hậu môn nhân tạovà người bệnh có hậu môn nhân tạo. Chăm sóc dẫn lưu và người bệnh có dẫn lưu. Chăm sóc người bệnh cóống dẫn lưu màng phổi.140 2 Bài 1 VAI TRÒ NGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG NGOẠI KHOA Mục tiêu: 1. Trình bày sơ lược về lịch sử ngoại khoa 2.
Trình bày những phát minh y học liên quan đến ngoại khoa 3. Trình bày những đặc điểm của ngoại khoa 4. Trình bày được vai trò của người điều dưỡng ngoại khoa 1. Lịch sử ngoại khoa - Giải phẫu thời cổ đại: Phương pháp giải phẫu đầu tiên được ghi lại ở Ai Cập vào năm 2250 trước Công nguyên (TCN) như mổ bướu cổ, rạch ung nhọt.
Hippocrates (Hy Lạp, 460–377 TCN) được coi như cha đẻ của nền Y học phương Tây. Ông cho rằng, bệnh tật là do những thay đổi vật chất trong cơ thể chứ không phải ý muốn của Thượng Đế. Ông có nhiều đóng góp trong điều trị gãy xương, trật khớp; hiện nay, phương pháp của ông vẫn còn ứng dụng trong ngành chỉnh hình. - Y học thời trung cổ: Thời kỳ này, nhà thờ thống trị xã hội.
Y học thời kỳ này quan niệm: mổ xẻ là không cần thiết, ngoại khoa bị thoái triển nghiêm trọng. Mổ xẻ chỉ là công việc thủ công và được giao cho thợ cắt tóc, đao phủ. - Y học thời phục hưng: Ngành ngoại khoa có những thay đổi theo chiều hướng tiến bộ. Giai đoạn này y học được phép mổ xác.
- Y học thời cận đại thực sự phát triển từ thế kỷ XIX. - Y học ngày nay đã và đang phát triển với những thành tựu như: Tuần hoàn ngoài cơ, vi phẫu thuật, thay thế tạng, ghép tạng, can thiệp nội soi, phẫu thuật nội soi… 2. Nội soi chẩn đoán và phẫu thuật nội soi 2. Nội soi thời sơ khai (từ năm 400 TCN – 1805) Quan sát các cơ quan bên trong cơ thể luôn là ước mơ của các thầy thuốc trong nhiều thế kỷ.
Hippocrates đã mô tả một dụng cụ để banh trực tràng (rectal speculum). Hiển nhiên, các dụng cụ thô sơ thời bấy giờ gặp phải trở ngại kỹ thuật lớn là không có đủ ánh sáng và thường không thể đưa sâu vào cơ quan, do đó suốt 2.000 năm ngành nội soi không phát triển. Nội soi thời hiện đại (từ năm 1805 đến nay) Năm 1901, Kelling đã dùng kính soi bàng quang để quan sát ổ bụng chó sau khi bơm khí trời vào ổ bụng. Năm 1910, Jacobeus (Thụy Điển) dùng kính soi bàng quang để soi ổ bụng người.
Trong vòng 30 năm, soi ổ bụng chỉ nhằm mục đích chẩn đoán chứ chưa thể phẫu thuật.Fervers (Đức) gỡ dính qua nội soi ổ bụng đầu tiên trên thế giới. Năm 1936, Boesch (Thụy Sĩ) thực hiện ca đoạn sản Hình 1 3 đầu tiên qua nội soi. Năm 1966, Hopkins (Anh) chế ra kính soi dùng hệ thống thấu kính hình que (rod – lens) cho hình ảnh sáng và sắc nét.2: Mổ nội soi ngày nay. Hình Thay vì nhìn qua kính nội soi, phẫu thuật viên nhìn qua màn hình video.
Sự thay đổi kỹ thuật như thế đòi hỏi phải tập luyện đôi tay thao tác thật điêu luyện Tháng 3 – 1987, Mouret (Pháp) tiến hành cắt túi mật qua soi ổ bụng đầu tiên trện thế giới, mổ ra một kỷ nguyên mới cho phẫu thuật, đó là phẫu thuật qua nội soi. Nếu như năm 1987 tại Mỹ chưa có ca cắt túi mật nội soi nào được thực hiện thì đến năm 1992, con số đó là 80% tất cả các trường hợp mổ cắt túi mật. Tại Việt Nam, ca mổ cắt túi mật nội soi đầu tiên được Nguyễn Tấn Cường thực hiện tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 1992. Nếu năm 1992, chỉ có 5% ca cắt túi mật được thực hiện qua nội soi thì trong giai đoạn 1993 – 1995, tỉ lệ đó đã là trên 73%.
Ngoài đặc điểm mổ sẹo nhỏ, thẩm mỹ cho người bệnh; ưu điểm của phẫu thuật nội soi hoặc phụ trợ bằng nội soi (Laparoscopic – assisted surgery)còn là giảm sang chấn đến mức tối thiểu, nhờ đó giảm đau đớn sau mổ, người bệnh có thể phục hồi nhanh chóng và xuất viện sớm. Sau mổ cắt ruột thừa hoặc cắt túi mật nội soi, người bệnh có thể xuất viện sau mổ 1 – 3 ngày. Chính yếu tố giảm thời gian nằm viện đưa đến giảm phí tổn nằm viện, một vấn đề mà cộng đồng y tế cũng như người bệnh rất quan tâm. Những phát minh y học liên quan đến ngoại khoa 3.
Gây mê – hồi sức: Ngày 16–10–1846, thầy thuốc ở Boston là William T.G Morton (1819–1868) trình diễn gây mê bằng ête thành công đã đánh dấu mốc lịch sử giải phẫu. Đây là phát minh rất quan trọng trong ngoại khoa vì nó giúp cho cuộc mổ nhẹ nhàng hơn, người bệnh ít đau hơn trong phẫu thuật. Truyền máu: James Blundell, người Anh, truyền máu lần đầu tiên cho một sản phụ vào năm 1818. Nhưng truyền máu chỉ thật sự bắt đầu từ năm 1930.
Vô trùng: Louis Pasteur (1835–1895), người Pháp, đã tìm ra vi trùng; Joseph Lister (1827–1912) người Anh, là người đầu tiên sử dụng phương pháp sát trùng trong phẫu thuật. Kháng sinh: 4 Alexander Fleming (1881–1955), nhà vi trùng học người Scotland đã tìm ra Penicillin và sau đó có hàng trăm kháng sinh ra đời. Kháng sinh giúp rất nhiều cho ngành y, đặc biệt cho ngành ngoại khoa. Đặc điểm ngoại khoa 4.
Định nghĩa: Ngoại khoa được định nghĩa như một nghệ thuật và khoa học điều trị bệnh, thương tổn và dị dạng bằng phẫu thuật và dụng cụ chuyên dùng. Phẫu thuật có sự tương quan giữa người bệnh, phẫu thuật viên, điều dưỡng ngoại khoa và nhóm gây mê. Mục đích của giải phẫu - Chẩn đoán bệnh chính xác: Khác với nội khoa, khi bác sĩ cần chẩn đoán bệnh chính xác thường dựa vào thủ thuật hay phẫu thuật, lấy bệnh phẩm gửi giải phẫu bệnh lý để đọc kết quả chính xác. - Điều trị triệt căn: Ngoại khoa thường điều trị bằng cách cắt bỏ phần bị bệnh.
Ví dụ: cắt ruột thừa trong viêm ruột thừa. - Điều trị tạm thời: Phẫu thuật giúp giải quyết những tắc nghẽn hay để giảm đau, giảm những triệu chứng tạm thời, để có thời gian nâng cao thể trạng, giảm tình trạng nhiễm trùng. - Điều trị phòng ngừa: Trong những trường hợp bệnh lý có nguy cơ cao trở thành ác tính về sau, điều trị ngoại khoa can thiệp bằng phẫu thuật giúp cắt bỏ để loại trừ nguy cơ. Ví dụ: cắt polyp đại tràng.
- Thẩm mỹ: Phẫu thuật giúp con người chỉnh sửa cơ thể bình thường để trở nên đẹp hơn. - Tái tạo chỉnh hình: Người bệnh được chỉnh lại cơ quan bị khuyết tật do dị dạng bẩm sinh hay do dị tật sau chấn thương bằng chỉnh hình giúp lập lại chức năng bình thường, người bệnh phục hồi khả năng hoạt động trong cuộc sống thường ngày. - Ghép cơ quan: Người bệnh được ghép một bộ phận của người khác để thay thế bộ phận đã mất chức năng của mình. Xếp loại phẫu thuật - Bệnh ngoại khoa bao hàm ý nghĩa phải bộc lộ các tạng, cơ quan có bệnh tật hay thương tổn mà mắt của thầy thuốc nhìn thấy để điều trị, được thực hiện bằng phẫu thuật với các dụng cụ chuyên dùng.
-Bệnh ngoại khoa luôn được phân loại mổ tuỳ vào tình trạng bệnh lý, từng hoàn cảnh người bệnh, tuỳ yêu cầu người bệnh và tình huống người bệnh cần được mổ cấp cứu hay mổ chương trình. - Phẫu thuật cấp cứu phải giải quyết trong vòng vài giờ, hoặc nếu tối khẩn thì phải giải quyết ngay như trong chảy máu động mạch… - Phẫu thuật trì hoãn khi người bệnh có bệnh lý cần mổ cấp cứu nhưng do bệnh lý cần phải chờ một khoảng thời gian để thầy thuốc theo dõi, điều trị, hồi sức, chăm sóc trước khi phẫu thuật. Ví dụ: trong những trường hợp nhiễm trùng, người bệnh cần được điều trị kháng sinh tích cực trước khi tiến hành phẫu thuật. - Phẫu thuật chương trình tùy vào bệnh lý không cần phẫu thuật ngay, tùy từng người bệnh muốn phẫu thuật lúc nào.
Thường người bệnh chọn ngày, giờ phẫu thuật và có sự chuẩn bị trước. Người bệnh có thể nhập viện để chuẩn bị trước mổ hoặc chỉ nhập viện 5 một ngày trước mổ, hoặc phẫu thuật trong ngày nhưng tất cả đều có sự chuẩn bị chu đáo. Phân bố các khoa Khoa phòng ngoại khoa luôn được phân chia thành hai khu: khu tiền phẫu và khu hậu phẫu. - Khu tiền phẫu là nơi người bệnh nằm theo dõi hay chờ phẫu thuật.
Nơi đây thường chỉ lưu các bệnh trước mổ, người bệnh rất cần những thông tin về cuộc mổ sắp đến, người bệnh cần được theo dõi tình trạng diễn tiến của bệnh. - Khu hậu phẫu là nơi người bệnh đã phẫu thuật, có vết thương, có dẫn lưu. Khu này phân thành khu sạch và khu nhiễm. - Mục đích của việc chia thành nhiều khu như thế để đảm bảo tình trạng vô khuẩn, lây chéo giữa các loại bệnh và trên hết vẫn là tâm lý người bệnh trước và sau mổ.
- Khu phòng mổ thông với khu hồi sức hậu phẫu bằng một hành lang kín, bằng phẳng, ngắn. Có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhóm gây mê, điều dưỡng trong phòng mổ và nhóm hồi sức hậu phẫu. Vô trùng trong ngoại khoa luôn được áp dụng một cách triệt để. Đặc điểm ngoại khoa - Ngoại khoa có đặc điểm: Người bệnh luôn có vết thương do chấn thương, do giải phẫu, có dẫn lưu, có hậu môn nhân tạo,.
Người bệnh có thể có mất mát cũng như biến dạng trên cơ thể: sẹo, khâu nối, ghép tạng, đoạn chi, mất một bộ phận nào đó trên cơ thể… Ngoài ra, ngoại khoa luôn kèm theo truyền máu. Do đó, hầu hết các phẫu thuật đều có chuẩn bị máu trước mổ cho cả mổ trung phẫu hay đại phẫu. - Vấn đề tâm lý rất quan trọng vì người bệnh thường chịu đựng sự mất mát, đau đớn, biến dạng, tai biến do phẫu thuật. - Ngoại khoa còn liên quan đến sự phát triển của máy móc, công tác khử khuẩn, thẩm mỹ.
Ngoại khoa còn liên quan đặc biệt đến gây mê.