MỞ ĐẦU Mục tiêu - Nhận định được tình hình chăn nuôi lợn trong hệ thống nông nghiệp. Tình hình chăn nuôi lợn 1. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm. Cách đây một vạn năm chăn nuôi lợn đã xuất hiện và phát triển ở châu Âu và Á.
Sau đó, khoảng thế kỷ XVI, bắt đầu phát triển ở châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển ở châu Úc. Đến nay, chăn nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia. Ở nhiều nước, chăn nuôi lợn có công nghệ cao và có tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Singapo, Đài Loan… Nói chung ở các nước tiên tiến có chăn nuôi lợn phát triển lợn theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao. Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bố không đồng đều ở các châu lục.
Có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và châu Âu, khoảng 30 % ở các châu lục khác. Trong đó, tỷ lệ đàn lợn được nuôi nhiều ở các nước có chăn nuôi lợn tiên tiến. Nơi nào có nhu cầu thịt lợn cao, nơi đó nuôi nhiều lợn. Tính đến nay chăn nuôi lợn ở các nước châu Âu chiếm khoảng 52%, châu Á 30,4%, châu Úc 5,8%, châu Phi 3,2 %, châu Mỹ, 8,6 %.
Nhìn chung, sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ ở các các nước theo tín ngưỡng Hồi giáo). Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn thực phẩm tốt cho con người, không những thế nghề chăn nuôi lợn đã đem lại lợi nhuận không nhỏ cho nền kinh tế của các nước này 6 Bảng 1. Top 10 quốc gia sản xuất thịt lợn lớn nhất thế giới (Nguồn USDA, tháng 10/2019) Sản lượng thịt (Đơn vị tính: Ngàn tấn) Quốc gia 2018 2019 Trung Quốc 54.131 Do ảnh hưởng của dịch tả châu phi (ASF) nên tổng đàn lợn thế giới năm 2020 dự báo đạt 1,02 tỷ con, giảm 10% so với năm 2019. Nguyên nhân chủ yếu do Trung Quốc là nước có tổng đàn lợn chiếm 45% đàn lợn thế giới nhưng do dịch bệnh nên số lượng đàn lợn nước này dự kiến sẽ giảm khoảng 25% trong năm tới.
Top 10 quốc gia tiêu thụ thịt heo lớn nhất thế giới (Nguồn USDA, tháng 10/2019) Quốc gia 2018 2019 Trung Quốc 55.663 Sản lượng thịt lợn thế giới năm 2020 ước tính cũng sẽ giảm khoảng 10%, trong đó các nước Châu Á có sản lượng giảm mạnh nhất, sau Trung Quốc là Philippin (giảm 16%), Việt Nam (giảm 7%)… Mặc dù sản lượng thịt lợn sản xuất giảm nhưng dự báo thị trường xuất nhập khẩu thịt lợn sẽ tăng khoảng 10% đạt 10,4 triệu tấn, trong đó nhu cầu nhập khẩu thịt lợn sẽ tăng 35% và đồng thời cũng chiếm 35% tổng sản lượng thịt lợn nhập khẩu toàn thế giới. Ngoài tăng trưởng về số lượng, giá thịt lợn xuất khẩu trong năm tới dự kiến sẽ tăng khá mạnh so với năm 2019, trong đó Braxil sẽ tăng 8 khoảng 20%, EU tăng 13%. Việc các nước tăng mạnh giá thịt lợn xuất khẩu sẽ là cơ hội cho Việt Nam trong việc cạnh tranh về giá nhằm tăng thị phần thịt lợn xuất khẩu vào các nước xuất có yêu cầu không cao về mặt chất lượng như Trung Quốc, các nước Châu Phi… 1. Tình hình chăn nuôi lợn Việt Nam Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ lâu đời.
Có nhiều tài liệu cho rằng nghề nuôi lợn và nghề trồng lúa nước gắn liền với nhau và phát triển theo văn hóa Việt. Cùng với việc tăng nhanh về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng không ngừng được cải thiện. Cho đến nay, có thể nói nhiều doanh nghiệp, công ty hay các Trung tâm giống lợn đã có khả năng sản xuất các giống lợn tốt đáp ứng nhu cầu nuôi lợn cao nạc và phát triển chăn nuôi lợn ở các hình thức khác nhau trong cả nước. Điển hình là các cơ sở của thành phố Hồ Chí Minh, các cơ sở của Viện Chăn nuôi, Viện Khoa học Nông Nghiệp Miền Nam và các Công ty sản xuất thức ăn có vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, việc quản lý con giống cũng là vấn đề nan giải và nhiều thách thức, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn cũng đã ban hành nhiều văn bản về công tác quản lý giống lợn trong cả nước. Hiện tượng các giống lợn kém chất lượng bán trên các thị trường nông thôn vẫn khá phổ biến, do vậy người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc gây dựng đàn lợn ban đầu. Vấn đề đặt ra là các địa phương cần xây dựng các cơ sở giống lợn của địa phương mình để cung cấp giống lợn tốt cho nông dân. Theo thống kê của ( FAO) tổng số đầu con của nước ta qua các năm như sau: Bảng 3.
Số lượng đầu con qua các năm (Nguồn FAO) Năm Số lượng 2017 27,406,739 2018 28,151,948 2019 24,932,202 T1/2020 19,615,526 9 Thịt lợn vẫn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu tiêu dùng của người việt với tỷ trọng trên 70% (2016: 72,91%, 2017: 71,83%, 2018: 71,12%. Tỷ trọng này sẽ giảm dần do đa dạng hóa cơ cấu và chủng loại thực phẩm tiêu dùng, chuyển dịch dần sang mặt hàng thức ăn nguội chế biến sẵn và ăn nhanh (dự kiến 2019: 70%, 2020: 68- 69%, 2025: 62-63%, và từ 2030 trở đi ổn định khoảng 60%). Việt Nam đứng thứ 7 thế giới về tiêu thụ thịt lợn (sau Trung Quốc, EU, Mỹ, Nga, Braxil, Nhật Bản). Thách thức đối với chăn nuôi lợn Mặc dù trong những năm qua, chăn nuôi lợn nước ta đạt được những thành tựu đáng kể nhưng đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay, ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn.
Giá thức ăn gia súc cao, chất lượng thức ăn chưa được kiểm soát So với các nước trong khu vực và thế giới thì giá thức ăn ở nước ta rất cao và thường xuyên biến động, điều này đã tác động bất lợi cho phát triển chăn nuôi lợn ở nước ta trong những năm qua. Nhìn chung giá thức ăn gần đây có giảm nhưng vẫn cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Giá thức ăn cao là một yếu tố quan trọng dẫn đến giá thành sản phẩm chăn nuôi lợn cao và lợi nhuận chăn nuôi thấp. Chất lượng thức ăn do các nhà máy chế biến thức ăn gia súc sản xuất có chất lượng rất khác nhau và chưa kiểm soát được.
Nhiều xí nghiệp sản xuất thức ăn gia súc chưa tuân thủ đúng qui định đã ban hành của Bộ Nông Nghiệp và PTNT. Nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn đang còn thiếu, chi phí vận chuyển cao. Năng suất chăn nuôi lợn còn thấp Mặc dù thu nhập từ chăn nuôi lợn chiếm 49,7% trong chăn nuôi nhưng người dân chỉ dành 10% thời gian lao động nông nghiệp cho hoạt động ngành chăn nuôi lợn. Năng suất lao động chăn nuôi cao hơn 25% so với các hoạt động sản xuất khác trong ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên, lợn tăng trọng còn chậm, trọng lượng xuất chuồng chưa cao, thời gian nuôi dài, chi phí cao. Ở các trại chăn nuôi tập trung đang còn gặp nhiều khó khăn trong quản lý, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và cả thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hệ thống giống lợn chưa hình thành Hệ thống giống lợn hình tháp: Cụ kỵ - Ông bà - Bố mẹ trong thực tế mới được quan tâm khoảng 2 năm gần đây. Tình trạng một số giống vật nuôi tốt lại biến thành vật nuôi thương phẩm; vật nuôi thương phẩm trong các trại tư nhân lại biến thành con giống.
Điều này đã làm giảm chất lượng đàn lợn ở thế hệ sau. Tình trạng thiếu nguyên liệu dùng làm thức ăn cho lợn Trong 10 năm qua, hàng năm chúng ta nhập từ bên ngoài khoảng 30-40% nguyên liệu như ngô, 80% khô dầu đậu tương, 50% bột cá và các thức ăn bổ sung có nguồn gốc từ Vitamin - Khoáng và enzyme, axit amin tổng hợp. Theo dự báo của Bộ NN & PTNT đến 2005 nhu cầu thức ăn tinh cho chăn nuôi là 10 triệu tấn, trong khi đó ta chỉ sản xuất được 7,6 triệu tấn và cần nhập 2,4 triệu tấn hàng năm. Đến 2010 nhu cầu thức ăn tinh sẽ tăng lên 1,6 lần và cần 16-17 triệu tấn trong mỗi một năm, trong khi đó ta chỉ đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi lợn vẫn còn gặp nhiều khó khăn Nhu cầu tiêu thụ thịt, trứng và sữa trong nước vẫn tiếp tục tăng do nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của nhân dân tăng lên. Song giữa người sản xuất và người tiêu thụ sản phẩm vật nuôi vẫn còn có khoảng cách như thiếu thông tin và độ tin cậy. Người chăn nuôi phải bán sản phẩm với giá thấp cho người trung gian, người tiêu thụ lại phải mua với giá cao hơn. Chênh lệch này người giết mổ hay buôn bán thịt lợn được hưởng lợi.
Trong khi đó thị trường nước ngoài ngày càng có sự cạnh tranh gay gắt nhất là sau năm 2006 khi Hiệp định AFTA có hiệu lực hoàn toàn, người chăn nuôi cần phải được cung cấp thông tin đầy đủ, tổ chức theo hệ thống từ khâu con giống đến giết mổ và đưa ra thị trường phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng tốt mới đủ sức cạnh tranh với sản phẩm chăn nuôi lợn của các nước trong khu vực. Đặc biệt, sản phẩm chăn nuôi lợn muốn xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu, Mỹ và Nhật, vấn đề an toàn thực phẩm cũng là điều đáng quan tâm của những người chăn nuôi lợn và người quản lý. Mối đe dọa nghiêm trọng từ dịch bệnh đến chăn nuôi lợn Nước ta là một nước nhiệt đới, nơi xuất phát của nhiều dịch bệnh có tính chất khu vực như các bệnh truyền nhiễm: Lở mồm long móng, tụ huyết trùng, phó thương 11 hàn, hội chứng bệnh tiêu chảy, hô hấp và sinh sản. Dịch tả lợn vẫn gây rủi ro rất lớn đến đầu tư phát triển chăn nuôi lợn, nếu đàn lợn không được tiêm phòng nghiêm ngặt.
Chính phủ đã có quyết định số 166 và 167 và thông tư qui định ngày 26/10/2001, trong đó hỗ trợ các loại vắc xin chủ yếu tránh các bệnh dịch nhưng việc triển khai không đồng bộ, hệ thống dịch vụ thú y kém nên việc phòng trừ dịch bệnh cho đàn lợn vẫn chưa có hiệu quả cao.