Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội hình thành giống lợn 1. Nguồn gốc các giống lợn nhà Theo Võ Trọng Hốt và cs (2005) [13], lợn nhà có 2 nguồn gốc chính, đó là lợn rừng Châu Âu (Sus serofaferus) và lợn rừng Châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus sus vittatus) được con người thuần hoá trong thời gian dài mà thành.
Lợn rừng Châu Âu Lợn rừng Châu Á (Sus serofaferus) (S. vittatus) Giống gốc Châu Âu Giống gốc Châu Á Giống gốc xa xưa pha trộn Các giống lợn hiện đại ngày nay Hình 1. Sơ đồ sự giao lưu giữa các giống lợn nhà Con lợn được thuần hoá từ thời kì đồ đá (khoảng 2000 năm TCN) và phát triển từ thời kì đồ đồng. Như vậy, lợn đã được thuần hoá cách đây khoảng 5000 năm.
Cho đến thế kỉ 19, các giống lợn nguyên thuỷ, địa phương và kể cả những giống đã được pha tạp qua di cư, giao lưu buôn bán chiếm vùng địa lí lớn ở châu Âu. Tuy nhiên, do các điều kiện sinh thái của các vùng, các nước khác nhau đó đã có ảnh hưởng nhất định tới tầm vóc, màu sắc lông và sức sản xuất của từng loại lợn. Trong thế kỉ 19 một số nước ở Châu Âu như: Nga, Thuỵ Điển, Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, một số nước ở Châu Á: Trung Quốc, Thái Lan, Mianma,. đã cho lai tạo các loại lợn khác nhau để tạo nên những giống lợn mới như Berkshire (đen) và Yorkshire (trắng) tạo nên sự xuất hiện các giống cao sản đầu tiên.
Dần dần các giống nguyên thuỷ, giống địa phương bị thu hẹp lại. Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tới việc hình thành giống lợn Trong quá trình thuần hoá lợn rừng, do điều kiện tự nhiên của các vùng khác nhau, điều kiện lịch sử và trình độ phát triển sản xuất không giống nhau dẫn đến việc hình thành các giống lợn khác nhau. Để giải quyết nhu cầu về thịt, con người đã cải thiện các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và tạo nên giống lợn nguyên thuỷ Châu Á từ lợn rừng Châu Á có đặc điểm dễ béo, sớm thành thục. Ở Châu Âu, cũng do điều kiện tự nhiên đã hình thành nên các giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu có đặc điểm như thành thục muộn, khả năng chịu đựng kham khổ cao.
Nguyễn Thiện và cs (2005) [29] cho biết, khi đã được thuần hoá, lợn hoang đã có nhiều thay đổi. Điều trông thấy rõ rệt là thân hình bé hẳn đi, nên các loại lợn nhà nguyên thuỷ đều bé nhỏ. Ở Châu Âu, mãi đến cuối thời kỳ Trung Cổ, mới có các loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như tai rủ, mãi về sau này do lai tạo có ý thức nên khối lượng lợn mới đa dạng hơn về hình dáng dần dà dài thêm, cao chân, mông phát triển. Trong điều kiện của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, các giống lợn ít được tác động chọn lọc, cải tạo nên tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, ít biến đổi di truyền nên tính thích nghi hẹp và đầy đủ đặc tính của giống nguyên thủy hay giống quá độ.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật thì giống lợn chịu nhiều tác động chọn lọc của con người nên có sự thay đổi lớn về tầm vóc, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho thịt và hiệu quả chuyển hóa thức ăn cao. Nước ta trong quá trình giao lưu kinh tế thế giới ở các thời kỳ, giống lợn nuôi ở Việt Nam đã chịu khá nhiều tác động biến đổi. Vào những thập kỷ 20, trong từng thời kỳ khác nhau, ở cả hai miền Nam Bắc chúng ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản. Ở miền Nam từ những năm 1950 đã tuần tự nhập các giống Berkshire, Yorkshire, Larrge white, Landrace… Ở miền Bắc từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước nhập hàng loạt lợn Tân Kim, Tân Cương… từ Trung Quốc.
Sau đó toàn quốc vào những năm 70 - 80 đã nhập các giống có tỷ lệ nạc cao như: Landrace, Yorkshire, Larrge white… và vài chục năm nay nhập các dòng Hybrid, các tổ hợp lai siêu nạc từ các nước Đông Âu, c 5 Tây Âu, Mỹ… để phát triển lợn lai các loại. Các giống lợn cao sản thường được dùng để cho lai với các giống lợn địa phương như: Đại Bạch x Ỉ, Landerace x Móng Cái, Yorkshire x Ba Xuyên… hoặc để pha máu cho các loại dòng lợn cao sản khác. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của lợn 1. Đặc điểm di truyền các tính trạng Cũng như các loài gia súc khác đặc điểm di truyền các tính trạng chất lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel màu sắc lông da như trắng, đen, vàng là những tính trạng chất lượng,… còn tính trạng số lượng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Số con trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ,… Đó là những tính trạng do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [30].
Giá trị kiểu hình của 1 tính trạng được ký hiệu là P (Phenotype). Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment). Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E. Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (Minorgene) cấu tạo thành.
Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygen). Các minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và át gen. Vì vậy, giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức: G=A+D+I Trong đó: G: Giá trị kiểu gen A: Giá trị cộng gộp D: Giá trị sai lệch trội I: Giá trị sai lệch tương tác A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm.
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng có hệ số di truyền trung bình. Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng có hệ số di truyền cao và cho hiệu quả chọn lọc cao. c 6 Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao. Từ những kết quả phân tích trên cho thấy, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường.
Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi trường sống như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn. Vì thế trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng cao thì ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổ hợp gen mới có năng suất chất lượng cao, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con vật. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của lợn 1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn * Tuổi động dục lần đầu Là thời gian từ sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị có biểu hiện động dục lần đầu tiên.Tuỳ theo giống, tuổi động dục lần đầu tiên có khác nhau.
Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, ở lợn nái lai tuổi động lần đầu muộn hơn so với lợn nái nội thuần (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [27]. Lợn Ỉ 120 - 135 ngày, Lợn Móng Cái 130 - 140 ngày, lợn Đại Bạch nhập vào Việt Nam từ 203 - 208 ngày, lợn Landrace từ 208 - 209 ngày. Ở lợn nội có tuổi động dục sớm, mà khả năng tăng khối lượng thấp, khối lượng khi động dục lần đầu đạt từ 20 - 25 kg. Vì vậy, không nên phối giống ở thời kỳ này, vì cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh.
Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái bền lâu, cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống (Phạm Hữu Doanh và cs, 1996) [7]; * Tuổi phối giống lần đầu Thông thường ở lần động dục lần đầu tiên người ta chưa phối giống, vì ở thời điểm này thể vóc chưa phát triển hoàn chỉnh, số trứng rụng còn ít. Người ta thường cho phối giống vào lần động dục thứ hai hoặc ba. Như vậy, tuổi phối giống lần đầu của lợn nội thường bằng tuổi động dục lần đầu cộng thêm thời gian của một hoặc hai chu kỳ động dục nữa. Thường phối giống vào lúc 6 - 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 - 50 kg, đối với lợn ngoại do khối lượng động dục lần đầu lớn, cho nên có thể phối giống từ lần động dục đầu tiên.
Lợn lai phối giống vào lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg và lợn ngoại phối giống vào lúc 9 tháng tuổi với khối lượng không dưới 80 kg. c 7 Vậy tuổi phối giống lần đầu tiên của lợn cái hậu bị là một vấn đề cần được quan tâm và phối giống cho đúng thời điểm khi lợn đã thành thục về tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu sẽ nâng cấp được khả năng sinh sản của lợn nái và nâng cao được phẩm chất đời sau. Thực tế đã chứng minh rằng nếu phối giống quá muộn sẽ gây lãng phí kinh tế, ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó (Nguyễn Khánh Quắc và cs, 1995) [25]. * Tuổi đẻ lứa đầu Sau khi phối giống, lợn có chửa 114 ngày (112 - 116 ngày), cộng thêm số ngày mang thai này lợn sẽ có tuổi đẻ lứa đầu.
Lợn nái nội (Ỉ, Móng Cái) trong sản xuất, tuổi đẻ lứa đầu thường 11- 12 tháng. Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12 - 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh và cs, 1996) [7]. * Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau đẻ Chu kỳ động dục của lợn nái thường kéo dài 18 - 21 ngày, nếu chưa phối giống hoặc phối giống chưa có chửa thì chu kỳ sau sẽ được nhắc lại.