Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình 1. Vị trí địa lý Đà Bắc là huyện vùng sâu, vùng cao của tỉnh Hòa Bình, nằm cách trung tâm thành phố Hòa Bình 15 km về phía Tây. Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp thành phố Hòa Bình và huyện Cao Phong, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, phía Nam giáp huyện Mai Châu và huyện Tân Lạc.
Diện tích tự nhiên 77.796,07ha, trong đó Đất nông lâm nghiệp 54.300,53 ha bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp: 3.537,34 ha, Đất Lâm nghiệp: 50.662,96 ha (chia ra: Đất rừng sản xuất 17.690,12 ha, đất rừng phòng hộ 27.356,46 ha, đất rừng đặc dụng 5.616,38 ha); Đất nuôi trồng thủy sản: 80 ha; Đất nông nghiệp khác: 25,13 ha; Đất Phi nông nghiệp: 8.556,39 ha; địa hình chia cắt, phức tạp, độ dốc lớn, huyện có gần 6.700 ha là diện tích mặt hồ Thủy điện Hòa Bình. Địa hình Đà Bắc có địa hình núi, sông, suối xen kẽ tạo thành nhiều dải hẹp và bị chia cắt mạnh nên có độ dốc lớn, độ dốc bình quân là 350. Tuy là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít, chủ yếu là đất rừng, ít có những cánh đồng và bình nguyên rộng. Địa hình nơi đây mang nhiều đặc trưng kiểu địa hình núi cao trung bình, chủ yếu là núi đá vôi, độ cao trung bình toàn huyện là 560m so với mực nước biển, có nhiều ngọn núi cao >1000m như: Phu Canh: 1.
Khí hậu, thủy văn Đà Bắc nằm trong vùng có khí hậu á nhiệt đới gió mùa, mỗi năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa nhưng vẫn có độ ẩm cao, thường kéo dài từ tháng 11 năm truớc đến hết tháng 4 năm sau. Mùa này thường xuất hiện sương muối. Có những vùng nhiệt độ nhiều ngày xuống dưới 100C làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các loại cây trồng và vật nuôi, nhất là với các loại đại gia súc như: trâu, bò. Mùa nắng nóng, ẩm từ tháng 5 đến tháng 10 thường mưa nhiều, độ ẩm cao, có lúc xuất hiện lốc xoáy, lũ ống, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 4 lũ quét, sạt lở đất đá.
Mặt khác do liền kề với hồ Hoà Bình rộng lớn nên chịu tác động đến khí hậu của huyện, mát về mùa hè và bớt lạnh vào mùa đông. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,80C, Nhiệt độ lúc cao nhất trong năm là 380C đến 390C, nhiệt độ cao tuyệt đối đến 41,80C, thấp nhất từ 2,70C đến 50C, thấp tuyệt đối có ngày một số nơi xuống đến 10C. Nói chung biên độ dao động tuyệt đối chênh lệch tương đối cao chỉ là hãn hữu trong vài ngày đến 1 tuần, không kéo dài lâu, phần lớn toàn huyện có khí hậu ôn hoà. Độ ẩm trung bình tương đối ổn định, hàng năm từ 81% - 84%, sự chệnh lệch giữa các tháng không cao, thấp vào tháng 12 và tháng 1; cao vào tháng 7, tháng 8 với biên độ giao động từ 70% - 90%.
Kinh tế (mức thu nhập) Tốc độ tăng giá trị sản xuất đạt 4,9%, so với kế hoạch đạt 89%, so với cùng kỳ (SVCK) đạt 94%. Giá trị tổng sản phẩm theo giá so sánh năm 2010 đạt 1.320 tỷ đồng, bằng 105% SVCK. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch không đúng hướng do bị thiệt hại nặng nề bởi thiên tai, mưa lũ năm 2017, tỷ trọng các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp 37,5% SVCK đạt 91%; công nghiệp, xây dựng 19,3%, SVCK đạt 98%; dịch vụ, thương mại, du lịch 43,2%, so cùng kỳ đạt 111%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 24 triệu đồng.
Xã hội (Dân số của huyện) Toàn huyện có 20 xã, thị trấn.849 người gồm 05 dân tộc anh em là Tày, Mường, Dao, Kinh, Thái cùng sinh sống. Dân tộc Tày 41,5%, Dân tộc Mường 33,0%, Dân tộc Dao 14,2%, Dân tộc Thái 0,3%, Dõn tộc Kinh 11%. Tổng số hộ dân khu vực nông thôn là 11. Trong đó: Tổng số người trong độ tuổi lao động là: 27.385 lao động nam; 13.580 lao động nữ) chiếm tỷ lệ gần 56,67% dân số nông thôn, song tỷ lệ lao động có tay nghề còn thấp (khoảng 18,5%), còn lại chủ yếu là lao động nông, lâm nghiệp và phổ thông.
Cơ sở khoa học về đặc điểm ngoại hình 1. Khái niệm ngoại hình Ngoại hình: Là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức khoẻ, hoạt động của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của vật nuôi và hình dạng đặc trưng của phẩm giống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 5 Ngoại hình của vật nuôi là hình dáng bên ngoài của con vật, bao gồm màu sắc lông, da, hình dáng từng bộ phận có sự liên quan đến thể chất, sức khỏe, cấu tạo, chức năng của từng bộ phận trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của vật nuôi. Ngoại hình còn là hình dáng đặc trưng của một phẩm giống.
Để đánh giá ngoại hình vật nuôi, người ta dùng mắt quan sát, dùng tay để sờ nắn, dùng thước để đo một số chiều nhất định. Ngoại hình con vật nuôi được đánh giá không chỉ trên các bộ phận mà được xem xét trên sự cân đối hài hòa của của các bộ phận. Đánh giá ngoại hình vật nuôi là bước đầu tìm hiểu trạng thái sức khỏe, sức sản xuất, hướng sản xuất của vật nuôi để từ đó giúp chọn lọc những vật nuôi tốt hơn. Bộ phận cơ thể Bao gồm có các bộ phận sau: Đầu, trán, mõm, tai, mắt, hàm, cổ.
* Đầu: Khi giám định ngoại hình lợn, cần quan sát hình dáng đầu, mức độ to nhỏ của nó. Đầu to hay nhỏ thường thống nhất với thân hình và tỷ lệ thuận với nhau: dài đầu thường chiếm 18-24% dài thân. * Trán: Nhìn chung khi lợn có trán rộng thì thân cũng rộng và phát dục nhanh. Những giống lợn đã được cải tiến thì trán rộng, các giống lợn nguyên thủy thì trán hẹp.
Do đó khi chọn giống cần chọn những cá thể trán rộng * Mõm: Hình dáng và độ dài của mõm là đặc trưng của từng giống lợn. Mõm cong hay quá ngắn hoặc mõm quá dài đều không tốt. Khi chọn lợn nên chọn những con có mõm dài vừa phải, có sự kết hợp tốt giữa hàm trên và hàm dưới * Tai: Hình dáng và độ to nhỏ của tai là đặc trưng của giống: Lợn Ỉ tai nhỏ và đứng, lợn Landrace tai to và rũ xuống. Về độ dày và mỏng của tai thể hiện thể chất của lợn.
Nếu lợn có tai dày chứng tỏ thể chất thô, tai mỏng thể chất thanh. Lợn tốt có tai mỏng và gốc tai hơi cứng. * Mắt: Mắt phải sáng, tròn nhanh nhẹn, không lồi và lõm quá sâu, mắt không có nhiều nếp nhăn ở mi mắt. Mắt nhanh nhẹn là mắt tốt và thể chất khoẻ mạnh.
* Hàm: Hàm phải phát triển bình thường, cân đối. Hàm trên và hàm dưới phải khít nhau, không chọn lợn có hàm lệch để chọn làm giống. * Cổ: Cổ lợn ngắn hay dài, dày hay mỏng đều liên quan đến sinh trưởng, phát dục của lợn. Yêu cầu cổ dài vừa phải, cơ phát triển đều đặn.
Kết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 6 hợp giữa đầu và cổ với vai phải chặt chẽ, không có vết lõm. Cổ của lợn đực thường thô và ngắn hơn cổ lợn nái. Phần thân trước Gồm có vai, ngực với hai chân trước. Yêu cầu chung là cơ phát triển tốt ở vai, ngực rộng, hai chân trước chắc khỏe.
* Vai: Yêu cầu phải rộng, phẳng, cơ phát triển tốt vì thịt vai có chất lượng tốt. Sự kết hợp giữa hai xương cánh tay với xương bả vai cần có tỷ lệ nhất định. Giữa bả vai với cổ lưng cần bằng phẳng. Khi quan sát ngoài không thấy rõ ranh giới, giữa các bộ phận là biểu hiện phát dục tương đối tốt.
* Ngực: Ngực cần rộng và sâu, vòng ngực lớn. Các chiều sâu và rộng ngực có thể dùng thước đo. Ở lợn phát triển bình thường sâu ngực chiếm 60- 65% cao thân, rộng ngực chiếm 40-50% chiều cao thân, Không sử dụng những lợn ngực hẹp, xương sườn ngắn phát dục kém, sinh sản kém và dễ mắc bệnh. * Chân trước: Yêu cầu chân trước phải thẳng, chắc chắn.
không được choãi ra trước hoặc ra sau. Khoảng cách 2 chân rộng, không khép lại hình chữ X. Ngón chân yêu cầu to hơi chếch so với mặt phẳng ngang, nếu ngón chân quá dài yếu hoặc có cục bướu đều không tốt. Phần thân giữa : Phần này kéo dài từ xương bả vai đến hông.
Gồm: lưng, hông, sườn, bầu vú và núm vú. Phần này gồm những phần thịt có chất lượng tốt, do vậy khi chọn giống cần chú ý * Lưng: Lưng phải thẳng rộng, dài. Kết hợp giữa bả vai và thân sau tốt nghĩa là không lồi lõm. Lưng võng là biểu hiện của thể chất yếu hoặc xương sống phát triển kém.
Lợn nội của nước ta nói chung còn một số nhược điểm lớn là lưng võng. Vì vậy, trong quá trình chọn lọc cần chú ý để có thể nâng cao được phẩm chất của phẩm giống. * Bụng: Đối với lợn nái bụng phải to, nhưng không sệ sát đất. Bụng quá to và sệ là biểu hiện của thể chất yếu.
Bụng lợn đực thon, gọn, nhưng không quá nhỏ, không lõm. * Hông:Yêu cầu rộng, phẳng, đầy đặn, dài vừa phải. Chỗ tiếp giáp giữa lưng và hông ít nhăn chứng tỏ kết hợp tốt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 7 * Sườn: Rộng, tròn, nếu nhiều nếp nhăn là biểu hiện cơ phát triển không tốt.
* Bầu vú và núm vú: Bầu vú lợn nái yêu cầu to. Số lượng vú của lợn đực, lợn cái phải có từ 12 vú trở lên. Khoảng cách giữa các núm vú phải rộng, sắp xếp đều và thẳng hàng, những vú như thế đảm bảo có nhiều sữa. Nếu ít vú, vú lép sản lượng sữa sẽ thấp.
Đầu núm vú có hình dạng bình thường, không quá to hoặc quá nhỏ. Phân thân sau (Mông, đùi, chân sau, đuôi) * Mông: Yêu cầu dài, rộng, phẳng, hơi chếch, thịt đầy đặn. Khi tiến hành giám định do bộ phận này rất quan trọng, phải giám định tỷ mỉ ở 3 mặt: phía trên, phía sau và 2 bên. Đứng 2 bên để quan sát có thể phân biệt rõ mông ngắn hay dài, dốc hay không dốc, rộng hay hẹp.
Mông hẹp và dốc thì ngoại hình xấu. Mông của lợn nái cần rộng và nở, xương chậu phát triển thì lợn dễ đẻ.