Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn 1. Đặc điểm về di truyền của lợn Cũng như các loài gia súc khác, đặc điểm di truyền các tính trạng chất lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel. Màu sắc lông da như trắng, đen, vàng… là những tính trạng chất lượng do một đôi gen quy định, không thay đổi qua các thế hệ.
Còn các tính trạng: Số con trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ, chất lượng thân thịt… là những tính trạng số lượng, do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2005) [39]. Các tính trạng số lượng và chất lượng đều chịu sự tác động giữa kiểu di truyền và môi trường. Kiểu di truyền hay kiểu gen là sự có mặt và hoạt động của từng gen riêng rẽ để ảnh hưởng đến sự hình thành của tính trạng hoặc là sự tổng hợp, sự tác động tương hỗ giữa các gen trong quá trình phát triển cá thể, thể hiện như một thể thống nhất, toàn vẹn, điều hoà toàn bộ đời sống của con vật. Kiểu di truyền là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài thông qua sự chọn lọc tự nhiên.
Kiểu hình là toàn bộ tính trạng của cá thể, hình thành biểu hiện gắn với kiểu di truyền, nhưng có thể quan sát, phân tích được và chịu ảnh hưởng thay đổi của các yếu tố môi trường, (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện và cs, 1995) [27]. Cũng theo tác giả trên cho biết: Sự phân chia đầu tiên của giá trị kiểu hình là sự phân chia nó thành các phần có thể bị ảnh hưởng của kiểu gen và môi trường. Kiểu gen là một tập hợp đặc biệt của các gen có được của một cá thể và môi trường là tất cả các yếu tố không di truyền (non - genetic). Các giá trị có liên hệ với kiểu di truyền và môi trường là giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường.
Kiểu di truyền quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch từ giá trị này theo hướng này hoặc hướng khác. Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P=G+E 5 P là giá trị kiểu hình của 1 tính trạng (phenotype); G là giá trị kiểu gen (genotype) và E là giá trị ngoại cảnh hay gọi là sai lệch môi trường (environment). Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành. Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (polygen).
Các minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và át gen. Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức: G=A+D+I Trong đó: G : Giá trị kiểu gen A : Giá trị cộng gộp D : Giá trị sai lệch trội I : Giá trị sai lệch tương tác A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm. F, 1974 (dẫn theo Trần Văn Tường và Nguyễn Quang Tuyên, 2 2000) [15], những tính trạng có hệ số di truyền (h ) từ 0,12 - 0,30 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp.
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng có hệ số di truyền trung bình. Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao. Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao. Ngày nay, người ta thu được những bằng chứng cho thấy tác động bổ sung một mình của gen không liên quan chặt chẽ với sự di truyền các tính trạng số lượng, mà các kiểu tác động khác của gen như siêu trội, trội và át gen cũng rất quan trọng, hơn nữa điều kiện ngoại cảnh là một nguyên nhân quan trọng của sự biến thiên ở hầu hết các tính 6 trạng.
Việc xác định ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh tới các tính trạng kinh tế ở gia súc sẽ rất có ích trong việc đưa ra những biện pháp lai giống và chọn lọc có hiệu quả nhất (Lasley. Trong chăn nuôi lợn, tính trạng số lượng quyết định đến các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường. Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi trường sống như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn. Hai cá thể giống nhau về kiểu gen nhưng có thể khác nhau về kiểu hình nếu được nuôi trong hai môi trường khác nhau.
Một cá thể có năng lực di truyền yếu nếu được nuôi trong môi trường thuận lợi hơn dễ được xếp hạng cao hơn cá thể khác có năng lực di truyền cao nhưng được nuôi trong môi trường kém (Nguyễn Thiện, Trần Đình Miên và cs, 2005) [39]. Vì thế, trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng cao thì ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổ hợp gen mới có năng suất chất lượng cao, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con vật. Tập tính của lợn Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận, 2005 [42], trong tự nhiên lợn có tập tính sống theo bầy đàn. Tuy nhiên, con đực có thể tách đàn đi riêng một mình, nó đủ sức tự vệ, không cần sự che chở của con khác.
Tập tính phòng vệ và đấu tranh sinh tồn của lợn: Lợn đực nhà nuôi riêng, khi hai con gặp nhau, lông gáy dựng đứng, hai hàm răng va vào nhau phát ra tiếng kêu kịch, kịch đe doạ lẫn nhau, bọt mép sùi ra hai bên mũi, lợn đực xông lên nhằm đe doạ nhau; trong giao phối tự nhiên vào mùa sinh sản của lợn thường xảy ra các cuộc chiến tranh dành lợn cái giữa các con đực. Lợn có tính tò mò cao và rất hiếu động; lợn nhà được tập luyện cho ăn với hiệu lệnh, đúng giờ ăn, ỉa, đái, nằm ngủ đúng chỗ quy định. Khi sợ hãi, lợn thường kêu rít, cơ bắp run, chụm vào nhau ở một góc chuồng, lợn thích ngủ nơi tối. Lợn có một số tập tính hoạt động thông thường như đi lại, đứng và ngủ trong thời gian nằm.
Một số tập tính đặc thù của lợn: - Hoạt động bú sữa của lợn: Khi cho con bú, con mẹ nằm nghiêng, thẳng, hai hàng vú lộ rõ. Đàn con bú mỗi con một vú, tranh thủ mút liên tục mỗi con 9 - 10 giây, con mẹ phát tiếng kêu “Ịt, ịt…” liên tục đều đặn trong khi tiết sữa cho con bú. Lợn con mới sinh ra có thể đứng ngay được và có thể tự tìm vú mẹ để bú, lợn mẹ vừa đẻ vừa cho con bú. Trong chăn nuôi lợn nái xem xét hoạt động này để đánh giá một phần khả năng tiết s ữa của lợn mẹ, sức khoẻ và chất lượng đàn con.
Nếu thời gian thúc vú nhiều mà mút sữa ít, chứng tỏ khả năng sản xuất sữa của lợn mẹ hạn chế. - Hoạt động phối giống của lợn đực: Con đực còn có hoạt động nhảy cái, có bản năng phát hiện được con cái động dục, nó tìm cách tiếp cận, nếu con cái tiếp nhận thì lợn đực sẽ tiến hành giao phối. - Hoạt động của lợn nái đẻ: Lợn nái chuẩn bị đẻ có biểu hiện tìm ổ, cào phá. Biết được hoạt động của lợn nái đẻ người chăn nuôi lợn có thể quan sát theo dõi lợn sinh sản tốt hơn, phát hiện tình trạng bệnh lý trong quá trình đẻ của lợn để có can thiệp kịp thời (Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận, 2005) [42].
Tập tính của lợn thể hiện ra hàng ngày, trong quá trình chăn nuôi chúng ta theo dõi và phát hiện ra tập tính của lợn, để có phương pháp chăm sóc cũng như quy trình chăn nuôi hợp lý, huấn luyện lợn theo phản xạ có điều kiện, làm cho khả năng thích nghi của lợn trong điều kiện chăn nuôi tập trung trở nên phong phú hơn, lợn có thể phát huy hết tiềm năng của nó. Đặc điểm về sự thích nghi của lợn Khả năng thích nghi của lợn là khả năng thích ứng với sự thay đổi môi trường sống, từ môi trường cũ sang môi trường sống mới con lợn vẫn sinh tồn phát triển, giữ vững được các tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm này cho đời sau. Lợn có khả năng thích nghi cao với các điều kiện khí hậu khác nhau, do đó địa bàn phân bố của chúng tương đối rộng rãi trên thế giới. Khả năng thích nghi của lợn còn thể hiện ở khả năng duy trì được các đặc điểm về sinh trưởng phát triển, tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm tốt này cho đời sau.
Khi di chuyển từ vùng ôn đới sang nhiệt đới và ngược lại, lợn vẫn giữ được các đặc điểm của giống. 8 Trong thực tiễn sản xuất, người ta lợi dụng đặc điểm này để tập cho lợn có phản xạ có điều kiện thuận lợi như: tập cho lợn có phản xạ bài tiết phân, nước tiểu đúng nơi quy định, tập cho lợn ăn đúng chỗ, đúng giờ, huấn luyện đực giống nhảy giá để khai thác tinh trong truyền giống nhân tạo (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [31]. Đặc điểm ngoại hình, thể chất của lợn Theo Trần Đình Miên và cs (1997) [28], thông qua việc đánh giá ngoại hình và thể chất của gia súc, có thể chọn làm con giống, cũng như để nuôi thịt và xác định giá trị của con vật. Hơn nữa, có những tính trạng không thể tiến hành cân đo hoặc phân tích bằng phương pháp hoá lý sinh, cho nên, càng phải đánh giá qua ngoại hình, thể chất.
Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức khoẻ, hoạt động của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của gia súc và là hình dạng đặc trưng của một phẩm giống. Thể chất liên quan chặt chẽ với sức khoẻ, con vật có thể chất tốt thì suốt đời khoẻ mạnh, nhanh, có sức sản xuất cao, dù điều kiện ngoại cảnh có thay đổi khá nhiều.