Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Vai trò của chăn nuôi lợn đối với đời sống Chăn nuôi lợn là một ngành có từ lâu đời, đã và đang phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của ngàng chăn nuôi. Chăn nuôi lợn mang lại sự đột phá trong chuyển dịch kinh tế của ngành chăn nuôi và trồng trọt. Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng mang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định cho người dân, giúp phần xoá đói giảm nghèo, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân.
Trong đó ngành chăn nuôi cung cấp khoảng 30% tổng sản phẩm nông nghiệp. Việc nâng cao đời sống vật chất của các tầng lớp nhân dâm, cải thiện điều kiện dinh dưỡng và chất lượng bữa ăn phục thuộc đáng kể vào sự phát triển của ngành chăn nuôi. Ngành chăn nuôi cung cấp cho con người các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng. Hiện nay, ngành chăn nuôi nước ta cũng cấp khoảng 1,6 triệu tấn thịt các loại, trên 40 nghìn tấn sữa và trên 3 tỷ quả trứng.
Ngành chăn nuôi thúc đẩy các ngành công nghiệp chế biến phát triển. Các cơ sở công nghiệp chế biến được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở phát triển của ngành chăn nuôi. Ngành chăn nuôi cũng cấp các nguyên liệu cho công nghiệp để sản xuất ra các mặt hàng và xuất khẩu có giá trị. Các sản phẩm phụ lò mổ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: bào chế thuốc, sản xuất bột máu, bột xương trong chăn nuôi [8].
Thịt lợn là một thức ăn không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người Viêt Nam có nhiều giá trị dinh dưỡng, cung cấp cho con người dinh dưỡng để lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất. Cùng với ngành chăn nuôi, chăn nuôi lợn đã có từ lâu đời, Ngày nay càng được phổ biến rộng rãi hơn được nhà nước quan tâm khuyến khích phát triển mạnh mẽ. Mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người nông dân. c 4 Đối với nước ta sản phẩm thịt lợn không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước.
Đối với người dân thì chăn nuôi lợn đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn. Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi lợn 1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên Đây là một yếu tố có sự tác động vô cùng to lớn đến hoạt động của kinh tế chăn nuôi lợn, vì đối tượng của kinh tế chăn nuôi lợn đều là các sinh vật sống, có thời gian sinh trưởng và phát triển phụ thuộc rất lớn về yếu tố tự nhiên. Trong những năm vừa qua đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, bắt đầu nền công nghiệp hóa đất nước hình thành, các nhà máy, công xưởng, cùng đồng nghĩa với việc nạn phá rừng tràn lan gây nên thảm họa về môi trường như hạn hán, lụt lôi rảy ra liên tiếp, môi trường bị tàn phá một cách nghiêm trọng, sự mất cân bằng sinh thái là tất yếu, dẫn đến dịch bệnh, sâu bọ phá hoại mùa màng khủng khiếp, điều này khiến không ít các nhà quản lý cũng như các người chăn nuôi ngần ngại về đầu tư.
Cụ thể các loại dịch bệnh luôn hoành hành làm tổn thất nên kinh tế như: dịch bệnh lở mồm long móng, bệnh tai xanh xảy ra ở gia súc, bệnh H5N1 xảy ra ở gia cầm. Nhóm nhân tố khách quan a. Thị trường tiêu thụ sản phẩm Phải nêu lên các vấn đề: sản phẩm, đặc điểm sản phẩm nông nghiệp khi tiêu thụ như (tươi sống. khó khăn cho việc bảo quản, sản phẩm nông nghiệp mang tính mùa vụ và có đặc điểm là cung muôn - không thể đáp ứng một cách ngày lập tực, vì đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sống, nó cần phải có thời gian sinh trưởng, phát triển sau đó mới đến bước thu hoạch, do vậy dù giá nông sản rất cao, các nông trại phải mất hàng tháng, thậm chí hàng năm mới có được sản phẩm).
c 5 Đối tượng khách hàng là ai? Khách hàng mua nông sản cũng được phân chia theo nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Ví dụ, những khách hàng là những công dân của những nước có thu nhập cao, thường họ có yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và những tiêu chuẩn vệ sinh, tuy nhiên họ thường sẵn sàng trả giá cao khi mua nông sản. Với những nhóm khách hàng có thu nhập thấp, thường thì họ có yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hóa cũng thấp, giá cả cũng khó chấp nhận ở mức cao. Ngoài ra, chúng ta cần chú ý đến đặc điểm khách hàng từng khu vực châu lục, cũng có những đặc điểm yêu cầu về sản phẩm có khi cũng khác nhau.
Một đặc điểm chú ý nữa với khách hàng là nên quan tâm đến yếu tố văn hóa và đặc điểm tôn giáo mà khách hàng đang tuân thủ. Ví dụ, thịt lợn là thứ mà những người theo đạo Hồi kiêng, cũng như nhưng người theo đạo Hin Đu không dùng thịt bò là thực phẩm trong bữa ăn của mình. Tóm lại thị trường tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng, nó là vấn đề sống còn của sự phát triển. Đối với hàng hóa, sản phẩm nông nghiệp thì thị trường tiêu thụ sản phẩm là vô cũng Tất cả các thành phần kinh tế đều phải sử dụng sản phẩm của nông nghiệp.
Mà hiện nay kinh tế chăn nuôi và nhất là chăn nuôi trang trại đang là theo chốt và chủ đạo trong phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp lại luôn phải gắn liền với đất đai, phụ thuôc rất lớn về khí hậu và thời tiết, dịch bệnh. Hơn nữa vùng sản xuất lại luôn dàn trải, không tập trung. Các hệ thống phân tán rộng khắp trên toàn lãnh thổ.
Chính điều này cũng khiến gặp không ít khó khăn trong vấn đề tiêu thụ. Chính sách về đất đai Hiện nay, chính phủ đã có những quyết sách đổi mới và thuận lợi nhiều cho phát triển kinh tế trang trại như chính sách giao đất, giao rừng, dồn điền, đổi thửa, điều này tạo đà cho sự phát triển kinh tế trang trại một cách vững chắc và lâu dài. Bên cạnh đó nền kinh tế nông nghiệp nước ta trước đây quá nghèo nàn lạc hậu; chính vì vậy mà việc cải tạo những bờ vùng bờ thửa sau khi dồn điền đổi thừa là vô cũng khó khăn và tốn kém, gây không ít trở ngại cho các chủ trang trại về vấn đề vốn và lao động. Chính sách về tín dụng Nhà nước đã thành lập các hệ thống ngân hàng từ trung ương đến địa phương đặc biệt là hệ thống ngân hàng nông nghiệp để phục vụ cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp ngày càng tiến xa hơn và vững chắc.
Bên cạnh hệ thống ngân hàng rất lớn, xong việc kinh doanh tiền tệ, và việc bảo tồn vốn là điều quyết định lại từ phái ngân hàng. Chính điều này gay không ít khó khăn khi cá nhà đầu tư vào kinh tế trang trại nhưng thiếu tài sản thế chấp. Đây là vấn đề cần được tháo gỡ để tạo điều kiện thuận lợn cho việc đầu tư vào phát triển ngành chăn nuôi. Các chính sách khác Ví dụ như chính sách thuế; bảo hộ sản phẩm nông nghiệp; xuất khẩu hàng nông nghiệp; chính sách ưu tiên cán bộ nông nghiệp làm việc ở vùng sâu, vùng xa nhằm phục vụ kỹ thuật cho các nhà đầu tư vào sự phát triển kinh tế chăn nuôi.
Do thị trường nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp từ nước ngoài Đất nước ta do thời gian trải qua chiến tranh quá dài, nên điều kiện phát triển nền kinh tế rất khó khăn, nông nghiệp và chế biến sản phẩm nông nghiệp phát triển kém. Chính điều này làm mất đi thế cạnh tranh so với các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới. Nước ta xuất khẩu sản phẩm chủ yếu là thô, giá rẻ, nhưng nhập khẩu lại là sản phẩm tinh giá cao nhưng lại hợp thị hiếu của một số người có thu nhập cao. Trong khi đó thì máy móc về chế biến của ta lại lạc hậu về công nghệ, thiếu về chủng loại.
Nhóm nhân tố chủ quan a. Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của người chăn nuôi Con người Việt Nam vốn xưa nay cần cù và chịu khó, tính vươn lên trong cuộc sống, tính cộng đồng lớn. Điều này là điều kiện cho phát triển một đất nước mạnh mẽ về cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh đó người chăn nuôi không được đào tạo, hoặc là đào tạo chắp vá, điều này khiến không ít các chủ chăn nuôi làm ăn thua lỗ, dẫn đến phá sản.
Quy mô diện tích trang trại Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới, gió mùa đất đai phì nhiêu cây cối tươi tốt quanh năm, diện tích đất trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn. Ngoài ra đất còn là hàng hóa đặc biệt, khi có sự đầu tư của con người thì đất ngày càng tốt độ phì nhiêu ngày càng cao, diện tích đất canh tác ngày càng lớn, chứ không như các tài sản khác là có sự hao mòn và dẫn đến hư hỏng. Bên cạnh đó diện tích đất tuy lớn nhưng đất canh tác lại thiếu, vì nước ta phân làm bốn vùng rõ rệt, vùng cao nguyên; vùng núi cao; vùng trung du, vùng đồng bằng. Nhưng diện tích vùng đồng bằng phù hợp cho phát triển kinh tế chăn nuôi nhất là chăn nuôi mô hình trang trại thì bình quân trên đầu người lại ít, mà vùng nui và trung du lại nhiều.
Để cải tạo và tạo vùng nguyên liệu rộng lớn là rất khó khăn, thậm chí là không thể. Lao động của trang trại Lượng lao động dồi dào trên 70% dân số nước ta phân bố ở nông thôn, tính cần cù chịu khó, tính tập thể tốt, bên cạnh đó trình độ lao động thấp, tác phong công nghiệp hầu như không có, dẫn tới kỷ luật trong lao động kém ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả lao động. Lực lượng lao động không tập trung mà phân bố rải rác khắp nơi, nên việc quy tụ lại một chỗ lại là cả vấn đề khó khăn, điều này cũng là nhân tố tăng các chi phí đầu vào ảnh hưởng lớn tới việc tăng giá thành sản phẩm. Đầu tư trong chăn nuôi Đầu tư cho trong chăn nuôi nhất là chăn nuôi mô hình trang trại vốn không lớn như sản xuất công nghiệp, đầu tư dần trong suốt quá trình sản xuất hoặc chu kỳ sản phẩm.
Điều này có thể giãn cách thời gian huy động vốn cũng như đầu tư vốn.