Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát lịch sử phát triển ngành chăn nuôi bò sữa 1. Thế giới Chăn nuôi gia súc lấy sữa mà đặc biệt là chăn nuôi bò sữa là một phần của nông nghiệp từ lâu đời. Trong lịch sử nó đã được một phần nhỏ trong các trang trại.
Chăn nuôi bò sữa quy mô lớn chỉ khả thi khi mà một trong hai một lượng lớn sữa là cần thiết cho sản xuất các sản phẩm sữa lâu bền hơn như pho mát bơ, hoặc có một thị trường đáng kể của những người có đủ tiền để mua sữa. Chăn nuôi bò sữa tập trung chủ yếu phát triển xung quanh làng mạc và thành phố, nơi mà người dân không thể có con bò của mình do thiếu đất chăn thả gia súc. Ở những vùng thảo nguyên, nhiều dân tộc du mục đã có các hình thức lấy sữa cừu để cung cấp nguồn thực phẩm bổ dưỡng. Ở châu Âu, bắt đầu từ thời kỳ phong kiến cho đến thời kỳ tiền tư bản, những người nông dân chăn nuôi bò sữa sẽ lấy đầy thùng sữa vào buổi sáng và mang đến thị trường trên một toa xe.
Cho đến cuối thế kỷ 19, vắt sữa của bò được thực hiện bằng tay. Tại Hoa Kỳ, một số hoạt động chăn nuôi bò sữa lớn tồn tại ở một số bang miền đông bắc và ở phía tây, mà liên quan đến nhiều như hàng trăm con bò, nhưng một cá nhân không thể vắt sữa được hơn một chục con bò mỗi ngày, việc vắt sữa diễn ra trong nhà hai lần một ngày (Betteridge, 2006) [18] Trong hầu hết thiên niên kỷ thứ hai sau Công nguyên, sữa chỉ được sản xuất cho tiêu thụ trong gia đình ở các làng quê và một số bò được nuôi trong các thành phố để cung cấp sữa tươi cho nhu cầu tiêu thụ của dân cư đô thị. Chỉ sau khi có sự ra đời của ngành đường sắt thì chăn nuôi bò sữa mới phát triển mạnh ở các vùng được công nghiệp hoá. Tổng sản lượng sữa tiêu thụ trên toàn thế giới không ngừng tăng lên trong những thập kỷ gần đây.
Ngày nay, các nước phát triển có tống lượng sữa tiêu thụ cũng như c 5 lượng sữa tiêu thụ bình quân ổn định (Barr, J. Lượng cung và cầu sữa nguyên liệu dạng lỏng của thế giới năm 2007 - 2015 và năm 2016 (nghìn tấn). Sản Lượng Lượng Lượng Sản lượng Tổng sản sữa tiêu bán cho dùng Năm lượng sữa lượng sữa dùng trực các Công mục đích sữa bò khác tiếp ty khác 2007 438. Số lượng bò sữa thế giới năm 2007-2016 và năm 2016 (nghìn con) Năm 2007 2008 2009 2010 2011 Số lượng bò 131.
Số lượng bò sữa và sản lượng sữa tươi nguyên liệu được sản xuất phân theo Quốc gia năm 2014, 2015 Số lượng bò sữa Sản lượng sữa Quốc gia (nghìn con) (nghìn tấn) 2014 2015 2014 2015 EU 23. Việt Nam Việt Nam vốn dĩ không có ngành chăn nuôi bò sữa truyền thống nên không có các giống bò sữa đặc thù. Ngành chăn nuôi bò sữa xuất hiện ở Việt Nam từ những đầu thế kỷ XX trải qua những tháng năm khó khăn của đất nước ngành chăn nuôi bò sữa đã đóng góp đáng kể trong việc đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho sự phát triển của đất nước, tuy nhiên ngành bò sữa mới chỉ thực sự trở thành ngành sản xuất hàng hóa từ những năm 1990 trở lại đây (Đinh Văn Cải, 2009) [1]. 1920-1923 nước pháp đã đưa những giống bò chịu nóng bò Red Sindhi (Thường gọi là bò sin) và bò Ongle (Thường gọi là bò bô) vào Tân Sơn Nhất , Sài Gòn, Hà Nội để nuôi thử và lấy sữa phục vụ người Pháp ở Việt Nam, Tuy nhiên số lượng thời đó còn ít (Khoảng 300 con) và năng suất sữa thấp (2-3 Kg/Ngày/Con) (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2004) [14].
c 7 1937-1942 ở miền nam đã hình thành một số trại chăn nuôi bò sữa ở Sài Gòn - Chợ Lớn, mỗi ngày sản xuất được hàng nghìn lít sữa với tổng sản lượng sữa đạt trên 360 tấn/Năm, có sáu giống bò sữa đã được nhập vào miền nam Việt Nam là Jersey, Ongole, Red shindhi, Tharpara và Haryana, cũng ở miền nam trong giai đoạn này, chính phủ Astralia đã giúp đỡ xây dựng trung tâm bò sữa thuần jersey tại Bến Cát với số lượng 80 bò cái, nhưng do điều kiện chiến tranh trung tâm này sau đó đã giải thể bò lai hướng sữa và bò sữa nhiệt đới về sau được nuôi tại Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đức tại những trang trại bò sữa do tư nhân quản lý với quy mô nhỏ từ 10-20 con, sản xuất sữa tươi cung cấp cho các nhà hàng và trực tiếp cho người tiêu dùng là chính. Dưới đây là những mốc lịch sử đáng nhớ của ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam (Nguyễn Hữu Hoàng, Lương Xuân Lâm, 2010) [10]. 1954-1960 ở miền bắc nhà nước bắt đầu quan tâm đến phát triển chăn nuôi trong đó có bò sữa. Các nông trường quốc doanh được xây dựng như Ba Vì (Hà Tây), Mộc Châu (Sơn La ), Than Uyên (Nghĩa Lộ), Tam Đường (Lào Cai), Hữu Nghị (Quảng Ninh), Hà Trung (Thanh Hóa) cùng với các trạm nghiên cứu về giống và chăn nuôi bò sữa.
Năm 1960 giống bò sữa lang trắng đen Bắc Kinh lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam nuôi thử nghiệm tại Ba Vì, Sapa và Mộc Châu. Đến thập kỷ 70, Việt Nam được chính phủ Cu Ba viện trợ 1000 con bò sữa Holstein Friesian (HF) về nuôi thử nghiệm tại Mộc Châu. Đồng thời chính phủ Cu Ba cũng giúp chúng ta xây dựng trung tâm bò đực giống Moncada để sản xuất tinh bò đông lạnh. Từ năm 1976 một số bò sữa HF được chuyển vào nuôi tại Đức Trọng (Lâm Đồng).
Bên cạch đó phong trào lại tạo và chăn nuôi bò sữa cũng được phát triển mạnh thêm ở các tỉnh Miền Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh tuy nhiên cho đến đầu những thập kỷ 1980 đàn bò sữa của Việt Nam chỉ được nuôi tại các nông trường quốc doanh và các cơ sở trực thuộc quản lý nhà nước. Quy mô của các nông trường quốc doanh thời đó phổ biến là vài trăm c 8 con quy mô lớn nhất là ở nông trường Mộc Châu với hơn 1000 con. Do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm chăn nuôi, cơ chế quản lý không phù hợp, điều kiện chế biến và tiêu thụ sữa khó khăn nên nhiều nông trường đã phải giải thể do chăn nuôi bò sữa không có hiệu quả. Đàn bò sữa vì thế mà cũng giảm đi nhanh chóng.
1985-1987 Đồng thời với việc nuôi bò thuần nhập nội chương trình lai tạo bò sữa Hà -Ấn cũng được triển khai song song với chương trình Sin hóa đàn bò vàng nuôi. Trong thời gian 1975-1985 Việt Nam nhập bò sin từ Pakistan về nuôi ở nông trường hữu nghị Việt Nam –Mông Cổ và trung tâm tinh đông lạnh Moncada (Ba vì –Hà Tây). Đồng thời năm 1987 bò Sahiwal cũng được nhập về từ Pakistan nuôi tại trung tâm tinh đông lanh moncada và nông trường bò giống miền trung (Ninh Hóa, Khánh Hòa) những bò Sin và bò Sahiwal dùng để tham gia chương trình Sin hóa đàn bò vàng Việt Nam nhằm tạo ra đàn bò Lai sin làm nền cho việc gây HF khác nhau tùy theo thế hệ lai. Trong thời gian trên Việt Nam cũng nhập tinh đông lạnh bò Jersey và nâu Thụy Sỹ để lai với bò cái lai sin, bò vàng cà bò cái lai.
Tuy nhiên do năng suất của con lai kém xa với bò lai HF, màu lông không hợp với thị hiếu người nuôi nên việc lai tạo của bò này không có hướng phát triển thêm. 1986- 1999 Từ năm 1986 Viêt Nam bắt đầu phong trào đổi mới và chỉ sau 3 năm từ một nước thiếu lương thực Việt Nam đã có lương thực xuất khẩu. Kinh tế phát triển đã tạo ra nhu cầu người dùng sữa ngày càng tăng do vậy đàn bò sữa tại Thành phố Hồ Chí Minh các tỉnh phụ cận như Bình Dương, Long An, Đồng Nai, ngoại thành Hà Nội và các tỉnh lân cận cũng tăng nhanh về số lượng. Từ năm 1986 đến năm 1999 đàn bò sữa tăng trưởng trung bình 11%.
Phong trào chăn nuôi bò sữa tư nhân đã hình thành và tỏ ra có hiệu quả 2001 chính phủ đã có chủ trương đẩy mạnh phát triển ngành sữa Việt Nam với việc thông qua quyết định 167/2001/QD/TTG về chính sách phát c 9 triển chăn nuôi bò sữa giai đoạn 2001-2010, theo chủ trương này từ năm 2001 đến năm 2004 một số địa phương (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, An Giang, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Sơn La,.) đã nhập một số lượng khá lớn (Trên 10000 con) bò HF thuần từ Mỹ Australia, Newzealand về nuôi. Nhìn chung ngành bò sữa phát triển mạnh từ sau nghị định 167 được ban hành (Hoàng Kim Giao, 2003) [8]. Từ 2008 đến nay có nhiều dự án đầu tư vào xây dựng trang trại quy mô chăn nuôi tập trung quy mô lớn và áp dụng khoa học công nghệ từ nước ngoài mà điển hình là trang trại bò sữa tập đoàn TH true milk tại Nghệ An. Theo số liệu thống kê gần đây tổng đàn bò và sản lượng sữa tại Việt Nam phân bố theo các vùng như sau trong bảng 1.
Số lượng bò sữa, sản lượng sữa tươi sản xuất tại một số vùng ở Việt Nam, (Tổng Cục Thống kê, 01/10/2015) S.L sữa TT Vùng Con % Tấn % 1 Cả nước 275.534 8,23 3 Miền núi và Trung du 20.568 10,73 4 Bắc bộ và DHMT 64.991 8,30 6 Đông Nam Bộ 111.289 4,46 (Hiệp hội chăn nuôi gia súc lớn Việt Nam,2017)[11] c 10 Và sản lượng sữa sản xuất và tiêu thụ qua các năm như bảng 1.6 dưới đây : Bảng 1. Sản xuất và tiêu thụ sữa ở Việt Nam TT Chỉ tiêu 2013 2014 2015 Nguồn Sản xuất trong TCTK 1 456.10/2015 BQ sữa quy đổi HHS, 2 17 18 21 tiêu thụ/người (kg) HH.GSL,2016 BQ sữa tươi sản 5,0 = 6,1 = 7,9 = 3 xuất trong HH.GSL,2016 29% 34% 37,8% nước/người(kg) Sữa nhập khẩu để 4 71% 66% 62,2% HH.GSL,2016 tiêu thụ Tổng giá trị sữa Tổng cục Hải 5 nhập khẩu để tiêu 1. Sơ lược tổng quan về sinh lý sinh sản của bò sữa 1. Cấu tạo cơ quan sinh dục gia súc cái Hệ thống sinh sản của bò cái gồm hai buồng trứng và hệ thống ống sinh dục cái.
Hệ thống ống vòi dẫn trứng, tử cung, cổ tử cung, âm đạo và âm hộ. Nguồn gốc phôi thai của buồng trứng là những thừng giới tính thứ cấp của mào sinh dục. Mào sinh dục xuất hiện đầu tiên trong phôi là một lớp hơi dày nằm cạnh các quả thận.