MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo Niên giám thống kê 2020, tại Việt Nam, chăn nuôi gia cầm là ngành đứng hai sau chăn nuôi lợn về cung cấp thực phẩm cho con ngƣời. Nhờ những chính sách hỗ trợ của Nhà nƣớc, cũng nhƣ áp dụng những tiến bộ trong công tác giống, chế biến thức ăn, công tác thú y và chăm sóc nuôi dƣỡng vào sản xuất mà những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm của nƣớc ta có những bƣớc tiến vƣợt bậc sánh vai các quốc gia khác trong khu vực. Năm 2020, đàn gia cầm của chúng ta đã đạt mức 512,7 triệu con (Niên giám thống kê, 2020).
Giai đoạn 2010 – 2020, tuy tốc độ tăng đàn trung bình 5,6%/năm song cơ cấu đàn gần nhƣ không thay đổi, gà địa phƣơng và gà lông màu vẫn chiếm khoảng 68% tổng đàn bởi khối lƣợng, màu da, chất lƣợng thịt phù hợp thị hiếu tiêu dùng của ngƣời Việt. Gà Ri là giống gà địa phƣơng đƣợc nuôi phổ biến ở nhiều vùng trong cả nƣớc nhƣng tập trung nhiều ở miền Bắc và Trung. Gà Ri có khối lƣợng vừa phải, chân nhỏ, da vàng, chất lƣợng thịt thơm ngon, thích nghi đƣợc điều kiện thức ăn nghèo dinh dƣỡng (Trần Thanh Vân và cs, 2015). Trên nền tảng di truyền của giống gà Ri, đồng bào dân tộc Sán Dìu tại khu vực phía tây thành phố Thái Nguyên đã chọn lọc giống gà này mang những đặc điểm đặc trƣng cho mình nhƣ lông màu vàng rơm, chân màu vàng và nhỏ, da vàng, khối lƣợng vừa phải… Do chọn lọc theo hƣớng tự phát trong cộng đồng nên các thông tin về khả năng sản xuất của giống gà này vẫn chƣa đầy đủ.
Đối với chăn nuôi gia cầm thì thức ăn chiếm khoảng 60 – 70% trong giá thành phẩm, vì vậy muốn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần sử dụng thức ăn hỗn hợp có hàm lƣợng dinh dƣỡng phù hợp (Trần Quốc Việt và Đặng Thái Hải, 2010). Biện pháp tốt để tăng năng suất sản phẩm và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn là cân bằng các chất dinh dƣỡng, đáp ứng nhu cầu của gia cầm. Mức năng lƣợng trao đổi (kcal ME) và protein thô trong thức ăn (% CP) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi xây dựng khẩu phần cho gia cầm ngƣời ta luôn hết sức chú trọng tỷ lệ giữa năng lƣợng trao đổi với hàm lƣợng protein thô trong khẩu phần vì cần phải tối ƣu hóa khả năng thu nhận thức Luan van 2 ăn cũng nhƣ đáp ứng các nhu cầu dinh dƣỡng thì mới đạt đƣợc hiệu quả trong chăn nuôi (Trần Thanh Vân và cs. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của tỷ số giữa năng lượng trao đổi và Protein thô khác nhau trong khẩu phần đến khả năng sản xuất thịt của gà Ri lông vàng nuôi tại Thái Nguyên”.
Mục tiêu của đề tài - Xác định đƣợc tỷ số giữa năng lƣợng trao đổi và protein thô (ME/CP) thích hợp trong khẩu phần ăn phù hợp với khả năng sản xuất thịt của gà Ri lông vàng - Đánh giá ảnh hƣởng của mùa vụ đến khả năng sinh trƣởng của gà Ri lông vàng 3. Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc xây dựng các công thức thức ăn cho gà Ri nuôi thịt ở miền Bắc Việt Nam. - Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ giảng dạy và các nghiên cứu tiếp theo.
Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà Ri nói riêng và gà lông màu nói chung đang phát triển tại khu vực miền Bắc của nƣớc ta; - Hoàn thiện quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng gà Ri tại khu vực miền Bắc nƣớc ta. - Các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi, những nông hộ, trang trại chăn nuôi gà thịt lông màu tại khu vực miền Bắc nƣớc ta có thể ứng dụng kết quả của đề tài để sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Luan van 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.
Năng lượng và nhu cầu năng lượng của gà thịt Theo Lê Đức Ngoan, Dƣ Thanh Hằng (2014) năng lƣợng trong dinh dƣỡng vật nuôi chính là nhiệt lƣợng sinh ra trong quá trình đốt cháy các hợp chất hữu cơ và biểu thị bằng calori. Calori (cal) là nhiệt lƣợng cần thiết để làm nóng 1 g nƣớc từ 16,5 đến 17,5 oC.000 cal) và megacalori (Mcal = 1.000 kcal) là các bội số của calori. Hiện nay, nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng đơn vị Joule (J) để biểu thị năng lƣợng, ta có thể chuyển đổi đơn vị calori sang đơn vị joule, 1 cal = 4,184 J.000 KJ) là các bội số tƣơng ứng của Joule. Vũ Duy Giảng, Bùi Văn Chính (2000) đã chỉ ra, khi đốt các chất hữu cơ trong máy đo nhiệt lƣợng (Bomb calorimeter), 1 g protein thu đƣợc 5,65 kcal, 1 g glucide thu đƣợc 4,1 kcal, 1 g mỡ thu đƣợc 9,3 kcal.
Ở gà, khi ăn thức ăn vào, năng lƣợng thô (GE) trong thức ăn sẽ đƣợc chuyển thành năng lƣợng trao đổi (ME), năng lƣợng phân (FE), năng lƣợng nƣớc tiểu (UE) và năng lƣợng khí đƣờng tiêu hóa (ECH4). Tuy nhiên, ở gà, các sản phẩm khí sinh ra là rất ít và khó xác định. Do phân và nƣớc tiểu đƣợc thải ra đồng thời nên rất khó để tách biệt phân và nƣớc tiểu ra để xác định năng lƣợng tiêu hóa, vì vậy giá trị năng lƣợng tiêu hóa (DE) không đƣợc sử dụng một cách phổ biến trong khẩu phần. Năng lƣợng trao đổi (ME) sẽ đƣợc chuyển thành năng lƣợng sinh nhiệt (HI) và năng lƣợng thuần (NE).
Năng lƣợng có vai trò rất cần thiết cho sự duy trì, sinh trƣởng, phát triển cơ thể và tạo ra sản phẩm. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs. (1999) mỗi hoạt động sống của cơ thể động vật đều gắn liền với quá trình sử dụng và trao đổi năng lƣợng. Quá trình này đòi hỏi sự lấy vào các chất dinh dƣỡng để bù đắp vào chỗ vật chất của cơ thể (lipid, protein, carbohydrate) đã bị đốt cháy, tạo ra năng lƣợng tích luỹ cho cơ thể lớn lên và phát triển đƣợc.
Luan van 4 Phương pháp xác định nhu cầu năng lượng cho duy trì đối với gà thịt Để cung cấp đầy đủ, chính xác khẩu phần cho gia cầm thì yếu tố đầu tiên là xác định mức năng lƣợng thích hợp, cần thiết cho nhu cầu duy trì các hoạt động, sinh trƣởng và phát triển của cơ thể. Năng lƣợng cho duy trì của gia cầm bao gồm năng lƣợng cho trao đổi chất cơ bản và năng lƣợng cho hoạt động tối thiểu. Nhu cầu năng lƣợng cho hoạt động sống bình thƣờng phụ thuộc vào mức độ hoạt động của gia cầm. Theo Singh và Panda (1988) trong điều kiện nuôi dƣỡng bình thƣờng thì năng lƣợng cho hoạt động của gia cầm bằng 50% năng lƣợng trao đổi cơ bản.
Nguyễn Xuân Tịnh và cs. (1996) cho rằng nhu cầu năng lƣợng trao đổi cơ bản là nhu cầu dƣỡng chất để bù đắp cho sự tiêu hao năng lƣợng, đây là các chất dinh dƣỡng phân giải lúc đói trong điều kiện tiêu chuẩn, không làm việc, không vận động. Còn năng lƣợng trao đổi chất cơ bản là mức năng lƣợng cần thiết để đảm bảo sự sống, đƣợc dùng cho các hoạt động hô hấp, tuần hoàn của máu, hoạt động thần kinh, hoạt động của các cơ quan trong điều kiện không có sự kích thích, năng lƣợng điều hòa thân nhiệt, sự biến dƣỡng của các mô nhƣ lông, biểu bì và sự sản xuất các enzyme và kích thích tố. Trong thực tiễn sản xuất, ngƣời ta thƣờng tính nhu cầu năng lƣợng cho 1 kg khối lƣợng trao đổi (W0,75), trị số 70 kcal ± 15% và ít biến động giữa các loài.
Theo McDonald và cs., 1995 (dẫn từ Nguyễn Đức Hƣng, 2006), ở gà, nhu cầu năng lƣợng trao đổi cơ bản cho 1 kg khối lƣợng là 72 kcal/ngày, còn 1 kg W0,75 là 86 kcal/ngày. Dựa vào năng lƣợng thuần cho duy trì chiếm 82% năng lƣợng trao đổi cho duy trì, ta có thể tính đƣợc nhu cầu năng lƣợng duy trì của gà đối với khối lƣợng khác nhau. Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng phƣơng pháp nuôi dƣỡng, phƣơng pháp dựa vào cân bằng năng lƣợng, phƣơng pháp dựa vào cân bằng nitơ và carbon, phƣơng pháp dựa vào nhu cầu năng lƣợng cho trao đổi cơ bản để xác định nhu cầu năng lƣợng cho duy trì (Từ Quang Hiển và cs. Ngƣời ta tiến hành thí nghiệm nuôi dƣỡng trong thực tế, năng lƣợng của khẩu phần ăn vào dùng để duy trì và tăng khối lƣợng, loại trừ năng lƣợng cho tăng khối lƣợng thì biết đƣợc năng lƣợng cho duy trì.
Theo Lê Đức Ngoan (2002) trong một số trƣờng hợp, Luan van 5 tăng khối lƣợng không phải do năng lƣợng mà do sự tích nƣớc cho nên để xác định sự thay đổi về năng lƣợng của cơ thể phải kết hợp với kỹ thuật giết mổ thịt so sánh. Phương pháp xác định nhu cầu năng lượng sản xuất đối với gà thịt Nhu cầu năng lƣợng cho sản xuất phụ thuộc vào các loại sản phẩm chăn nuôi khác nhau nhƣ thịt, trứng, sữa hay sức kéo cũng nhƣ năng suất thực tế của chúng. Ở gia cầm đang sinh trƣởng và vỗ béo, nhu cầu năng lƣợng cho sản xuất phụ thuộc vào tăng khối lƣợng hàng ngày và thành phần thân thịt xẻ. Trong từng thời kỳ sinh trƣởng của gà thịt, nhu cầu năng lƣợng rất khác nhau, không chỉ là sự thay đổi về tỷ lệ năng lƣợng chuyển thành nhiệt mà còn do sự thay đổi về số lƣợng năng lƣợng đƣợc tích lũy và phân chia năng lƣợng tích lũy đó thành protein và mỡ (Mac Leod, 1999, dẫn từ Nguyễn Đức Hƣng, 2006).
Ở gia cầm cứ tăng 1 g khối lƣợng cơ thể, cần sử dụng 4 kcal, với tỷ lệ tiêu hóa là 80%, gia cầm tăng đƣợc 1g khối lƣợng cơ thể cần cung cấp năng lƣợng 5 kcal ME (Trần Thanh Vân và cs. Protein và nhu cầu protein của gà thịt Protein là một nhóm các hợp chất đại phân tử sinh học, cùng với polysaccharit, lipid và acid nucleic, tạo nên các hợp phần chủ yếu của cơ thể sống. Một cách cụ thể, protein là các polymer đƣợc tạo nên từ các trình tự xác định các acid amin. Trong cơ thể sống, protein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất.
Về mặt số lƣợng, protein chiếm không dƣới 50% khối lƣợng khô của tế bào. Từ lâu ngƣời ta đã biết rằng protein tham gia mọi hoạt động sống trong cơ thể sinh vật.