Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Giới thiệu vềAlgimun Khái niệm Algimun là một chế phẩm dạng bột được làm từ tảo biển, có chứa bốn thành phần thiết yếu (axit hóa, enzyme, chất điện giải và các vi khuẩn axit lactic) giúp tăng cường miễn dịch tự nhiên của vật nuôi nhằm tối ưu hiệu suất chăn nuôi, được dùng để trộn vào thức ăn. Thành phần và chức năng của Algimun Axit citric:Là một axit hữu cơ yếu.
Nó là một chất bảo quản tự nhiên và cũng được sử dụng để bổ sung vị chua. Trong hóa sinh học, nó là tác nhân trung gian quan trọng trong chu trình axit citric và vì thế xuất hiện trong trao đổi chất của gần như mọi sinh vật. Nó cũng được coi là chất chống oxy hóa. Axit citricgiúp nâng cao hệ số tiêu hoá thức ăn và tính năng sản xuất của vật nuôi, ngăn ngừa ỉa chảy, thúc đẩy sinh trưởng, nâng cao hiệu suất chuyển hoá thức ăn.
Muối: Tăng tính ngon miệng, tăng khả năng tiêu hóa, hấp thu protein, giúpổn định độ toan kiềm của máu, tham gia vào hệ đệm của máu, giữ áp suất thẩm thấu của máu và mô bào, ổn định nhịp tim và hô hấp. Maltodextrin: Tạo vị ngọt trong các sản phẩm thức ăn chăn nuôi thú y Potassium chloride: Giúp cho các dây thần kinh và cơ bắp hoạt động đúng chức năng. Tăng cảm giác ngon miệng, tham gia vào quá trình cân bằng điện giải ở tế bào. Silicon dioxide: Cải thiện sự hấp thụ chất dinh dưỡng, làm tăng tăng trọng lượng của vật nuôi và hiệu quả hấp thụ thức ăn một cách lành mạnh và bền vững.
Silicon dioxide còn giúp giảm mùi hôi thối. Luan van 4 Sodium saccharin: Bổ sung chất tạo vị ngọt (Sodium saccharin) trong thức ăn cho vật nuôi. Cải thiện tính ngon miệng, giúp vật nuôi ăn nhiều hơn. Chất tạo vị ngọt giúp khắc phục những vịkhông ngon của các nguyên liệu khác có trong khẩu phần Sodium citrate: Điều chỉnh độ pH, tăng thêm hương vị, làm chất bảo quản, điều chỉnh lại độ acid trong thức ăn chăn nuôi.
Kẽm sulfate: Đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất protein, carbohydrate, lipit. Có vai trò trong phát triển xương, duy trì sức sinh sản, chống sừng hóa. Sắt sulfate: Tham gia vào quá trình hình thành hemoglobin trong hồng cầu máu. Tham gia tạo nên cơ, da và lông Magnesium sulfate: Là thành phần của xương và răng.
Đảm bảo khả năng hoạt động của hệ thống thần kinh và cơ, nằm trong thành phần 1 số enzyme. Điều hòa phản ứng photphoryl - oxy hóa, tham gia vào điều hòa thân nhiệt. Chiết xuất men Aspergillus niger được sấy khô: Là một loại nấm và là một trong những loài phổ biến nhất của chi Aspergillus. Trong công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm như: tương chao, nước mắm, nước tương;công nghiệp sản xuất một số axit hữu cơ như: acid citric, acid glucomic.
Một số loài thuộc giống Aspergillus khác có khả năng tạo chất kháng sinh, như A.fumigatus tạo thànhfumagilin có tác dụng lên entamoabae histolyca; A.nidulans tạo thành humicolin, nidulin có tác dụng ức chế đối với với các loại vi khuẩn, trong số các chất này thực sự dùng trong công nghiệp dược phẩm hiện nay chỉ có loài A.fumigatus sản xuất fumagilin làm thuốc chữa lị amip. Nhiều loài giống Aspergillus có khả năng biến đổi sinh học, một số khác tạo ra các loại độc tố. Luan van 5 Chiết xuất men Bacillus subtilis được sấy khô:Trong hệ tiêu hóa, B.subtilis sản sinh ra nhiều enzyme, trong đó chủ yếu nhất là các men tiêu hóa alpha amylase và protease. Đây là các enzyme xúc tác cho các phản ứng phân hủy tinh bột, protein.
Đặc biệt, kể cả khi đã chết đi, xác lợi khuẩn Bacillus subbtilis vẫn tiếp tục giải phóng ra các enzyme, kháng sinh và các vitamin có lợi cho cơ thể sử dụng lợi khuẩn. subtilis còn có nhiều tác dụng khác có lợi cho sức khỏe như chống đông máu, kích thích hệ miễn dịch, phòng ngừa rối loạn tiêu hóa, phòng tránh nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus được sấy khô: Giúpcải thiện sức khỏe của động vật, giúp tăng trọng, giảm tỉ lệ chết non và ngăn chặn tác nhân gây bệnh gây ra bởi các sinh vật như E.coli, Salmonella và Clostridium. Chiết xuất men Enterococcus faecium được sấy khô: Là các chất thay thế kháng sinh để thúc đẩy sức khoẻ ở động vật.
khuyến khích môi trường ruột cân bằng, tăng cường chức năng miễn dịch của tế bào, điều chỉnh tăng cường sự gia tăng tế bào. Những chất này giúp hỗ trợ phòng ngừa nhiễm các khuẩn gây bệnh, bảo vệ chức năng tiêu hóa, hỗ trợ thay thế kháng sinh kích thích tăng trưởng, tăng cường sức khỏe cho vật nuôi. Tác dụng của Algimun đến hiệu quả chăn nuôi gà - Tăng khả năng hấp thụ thức ăn đặc biệt là giai đoạn cuối nuôi thịt. - Hạn chế bệnh tiêu chảy, giúp phân khô và khuôn, giảm mùi hôi.
- Nâng cao sức đề kháng, giảm stress khi làm vắc - xin, thời tiết thay đổi, bệnh dịch. - Dùng rất hiệu quả khi úm gia cầm, giai đoạn khai thác thịt và tăng tỷ lệ đẻ, tỷ lệ phôi trên gia cầm đẻ trứng. Liều lượng dùng Algimun Luan van 6 - Liều dùng: Pha Lấy1g chế phẩm Algimun pha với 20ml nước phun sương lên thức ăn trộn đều với 1kg thức ăn. Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Cobb 500 và gà Ri lai 1.
Nguồn gốc, đặc điểm và khả năng sản xuất của gà Cobb 500 * Nguồn gốc, xuất xứ Giống gà Cobb500 được công ty Emivest nhập từ Mỹ năm 1997. Gà Cobb500 bố, mẹ được công ty nuôi để sản xuất gà con. Gà con sản xuất ra được chuyển đến nuôi ở các trang trại nuôi gia công cho công ty và một số được Hình 1.1 Gà Cobb 500 bán ra thị trường. * Khả năng sản xuất Gà Cobb500 là giống thịt cao sản, lông màu trắng, thân hình bầu đẹp.
Thích hợp để nuôi công nghiệp, phẩm chất thịt thơm ngon, được nhiều người sử dụng ưa chuộng. Gà Cobb500 đạt được kết quả tốt nhất kể cả trong điều kiện khí hậu nóng và lạnh, môi trường được kiểm soát và cả trong chuồng hở. Gà trống nuôi 42 ngày tuổi nặng 2,8 -2,9 kg/con, gà mái nặng 2,4 - 2,5 kg/con, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) thấp ở con trống là 1,7 và con mái 1,82 (từ1 ngày tuổi đến 42 ngày tuổi). Khi giết thịt ở khối lượng 2.800 g so với khối lượng sống, thì tỷ lệ thân thịt đạt khoảng 72,23%; tỷ lệ cơ ngực là 19,19 - 19,60%; tỷ lệ cơ đùi + cẳng là 22,99 - 23,45%.
Nguồn gốc, đặc điểm và khả năng sản xuất của gà Ri lai (Ri x Lương Phượng) Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi từ năm 2001 đã lai tạo tổ hợp gà lai thả vườn (¾ Lương Phượng, ¼ Ri) trên cơ sở kết hợp giữa gà Luan van 7 kiêm dụng thịt trứng Lương Phượng cho năng suất cao của Trung Quốc với gà Ri cho chất lượng thịt tốt của Việt Nam để phục vụ chăn nuôi nông hộ và trang trại. Trong giai đoạn đầu, con lai (¾ Lương Phượng, ¼ Ri) được tạo ra bằng cách cho lai giữa gà trống Lương Phượng với gà mái lai (Lương Phượng x Ri) hoặc (Ri x Lương Phượng). Hiện nay các thế hệ gà lai (¾ Lương Phượng,¼ Ri) tự giao được nuôi nhiều ở các hộ và trang trại chăn nuôi gà thả vườn thuộc các tỉnh Hưng Yên, Hà Nội và Phú Thọ. Trong quá trình lai tạo và nuôi triển khai cho thấy gà Ri lai có khả năng sinh trưởng tốt (Nguyễn Huy Đạt và Hồ Xuân Tùng, 2004).
Gà Ri là giống phổ biến nhất được nuôi chủ yếu ở miền Bắc, con lai giữa gà Ri với giống gà khác có màu lông khác với gà thuần. Da và chân màu vàng, gà Ri nuôi theo phương thức quảng canh có khối lượng sống 310 - 330g lúc 60 ngày tuổi, - 5 - dòng trống nặng 600 - 620g và dòng mái là 510 - 530g (NgôThị Kim Cúc, 2010). Hiện tại gà Ri tồn tại 95 - 96%, thông thường nuôi quảng canh trong điều kiện nghèo dinh dưỡng, tỷ lệ còn sống 60 - 70% và năng suất thấp. Gà Lương Phượng là một trong những giống nhập nội được nuôi phổ biến ở miền Nam, lúc 60 ngày tuổi khối lượng sống của gà Tàu Vàng là 637g, 60 ngày tuổi dòng trống nặng 1300g, dòng mái nặng 1060g, năng suất 120 quả trứng/mái/năm.
Trong điều kiện nghèo dinh dưỡng năng suất thấp hơn 10 - 15%. Gà Tàu Vàng thả trong nhà kín 16 tuần tuổi đạt 1991g đối với con trống và 1422g đối với con mái. Chọn hậu bị lúc 19 tuần tuổi, khối lượng gà trống 1942g và gà mái đạt 1466g. Tỷ lệ nuôi sống là 92,1% và 94,8% tương ứng cho giai đoạn 1 - 8 tuần tuổi và 9 - 14 tuần tuổi.
Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) tương ứng 2,32kg và 6,85kg/ kg tăng trọng đối với con mái và 4,64kg cho gà trống. Nuôi thâm canh năng suất trứng 120 quả trứng/mái, tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 3,14kg, tỷ lệ trứng có phối 86% khi tỷ lệ phối giống 81,1% (NgôThị Kim Cúc, 2010) Luan van 8 Khối lượng sống ở 11 tuần tuổi của gà Ri là 1016,67 g và gà Ri lai (¾ Lương Phượng, ¼ Ri) là 1479,17 g. Như vậy, gà Ri lai có khối lượng sống lớn hơn (462,5g) so với gà Ri và sự sai khác về khối lượng sống giữa gà Ri lai và gà Ri là rất rõ ràng (P<0,01). Mặt khác, khối lượng sống giữa các cá thể của cùng một loại gà là khá lớn ở gà Ri (Cv = 25,21%) và gà Ri lai (Cv = 21,74%).
Điều này có thể được giải thích là do khối lượng gà trống là lớn hơn rất nhiều (P < 0,001) so với gà mái. Cụ thể, khối lượng mổ khảo sát của gà mái và gà trống ở gà Ri là 800.33 g; ở gà Ri lai tương ứng là 1191. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng sản xuất của gia cầm 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng * Khái niệm về sinh trưởng Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), đã khái quát: “Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”.
Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, dinh dưỡng và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác. * Các giai đoạn sinh trưởng của gà.