Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Thống kê của Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Việt Nam có 30 giống vật nuôi các loại, nhưng đã có 5 giống bị tuyệt chủng, 50% số còn lại nằm dưới con số 20 con đực và 1000 con cái. Điều đó khiến Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thất thoát nguồn gen vật nuôi. Ngành chăn nuôi trong thời hiện đại hóa, thiên tai dịch họa và bệnh tật.
là những “ thủ phạm” gây ra sự thất thoát này. Để tìm ra những giống vật nuôi còn tiềm ẩn hay muốn bảo tồn một loài vật nuôi nào đó thì cần phải có sự liên kết chặt chẽ với người dân địa phương, bởi vì không ai có thể nắm bắt được thông tin nhanh hơn những người dân bản địa đang sinh sống tại các vùng đất lâu đời của họ. Bảo tồn là gì? Bảo tồn (conservation) là chỉ cách quản lý của con người đối với nguồn gene vật nuôi, tài nguyên di truyền động vật giữ sao cho nó có lợi một cách bền vững cho các thế hệ sau, tức là giữ được tiềm năng của chúng có thể đáp ứng nhu cầu và mong muốn của các thế hệ trong tương lai. Như vậy nghĩa của “bảo tồn” là tích cực, nó bao gồm giữ (preservation), lưu lại (maintenance), sử dụng lâu bền, khôi phục và phát triển môi trường tự nhiên.
*) Phương pháp bảo tồn insitu Bảo tồn insitu là hình thức bảo tồn các hệ sinh thái và những nơi cư trú tự nhiên, duy trì và phục hồi các quần thể loài đang tồn tại trong điều kiện sống tự nhiên của chúng. Trong trường hợp các loài được thuần hoá và canh tác, công việc này được tiến hành tại khu vực mà các giống vật nuôi cây trồng đó hình thành nên đặc tính của mình. Là hình thức bảo tồn đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái vận động tiến hoá của nơi cư trú nguyên thủy hoặc môi trường tự nhiên. 4 Hiện nay, đối với một bộ phận lớn của đa dạng sinh học trên trái đất, công tác bảo tồn chỉ khả thi khi các loài đó được duy trì trong phạm vi phân bố cũng như ở trạng thái tự nhiên của chúng.
Điều này còn có nhiều ý nghĩa khác như cho phép loài tiếp tục quá trình thích nghi trong tiến hoá và về nguyên tắc đảm bảo cho việc tiếp tục sử dụng các loài (mặc dù điều này đòi hỏi phải có sự quản lý). *) Bảo tồn Ex situ - Là hình thức bảo tồn các thành phần của đa dạng sinh học bên ngoài những nơi cư trú tự nhiên của chúng. - Là hình thức duy trì các thành phần của đa dạng sinh học tồn tại bên ngoài nơi cư trú nguyên thủy hoặc môi trường tự nhiên của chúng. Các quần thể đang tồn tại của nhiều sinh vật có thể được duy trì trong canh tác hoặc nuôi giữ.
Thực vật có thể được bảo tồn trong ngân hàng hạt giống và các bộ sưu tập mô; các kỹ thuật tương tự cũng được phát triển cho động vật (lưu giữ phôi, trứng, tinh trùng), nhưng khó giải quyết hơn nhiều. Trong mọi trường hợp, bảo tồn ex-situ hiện tại rõ ràng chỉ khả thi đối với một tỷ lệ sinh vật nhỏ. Công việc này đòi hỏi chi phí rất lớn đối với phần lớn các loài động vật, và mặc dù theo nguyên tắc công việc bảo tồn ex-situ có thể tiến hành với một tỷ lệ lớn các loài thực vật bậc cao, nhưng vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số các sinh vật của trái đất. Công việc này thường dẫn đến suy giảm đa dạng di truyền do những hiệu ứng xói mòn di truyền và do xác suất lai cận huyết cao.
Đặc điểm sinh học của lợn 1. Khả năng sinh sản Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý lợn có thể đẻ 1,8 – 2,4 lứa/năm và đạt 10 – 12 con/lứa. Lợn nái có nhiều vú, khả năng tiết sữa cao. Số lượng vú, khả năng tiết sữa và số con đẻ ra có liên hệ mật thiết với nhau.
Các giống lợn nội thường có 10 vú trở lên, lợn Móng Cái thường có 12 – 16 vú. 5 Lợn là loài gia súc có khả năng thành thục sớm, nhất là các giống lợn nội của ta, do quá trình chọn lọc, nuôi dưỡng, tập quán chăn nuôi và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới. Lợn đực 40 – 50 ngày tuổi đã có biểu hiện động dục và có khả năng giao phối, cơ quan sinh dục có khả năng sản xuất ra tinh trùng. Lợn cái 3 – 4 tháng tuổi đã có biểu hiện động dục.
Như vậy nếu đem so sánh với các giống lợn khác trên thế giới thì lợn nội thành thục rất sớm (Theo Trần Văn Phùng, 2004) [23]. Khả năng chịu đựng kham khổ Lợn là loại gia súc có dạ dày trung gian, có thể sử dụng tốt nhiều loại thức ăn nên nguồn thức ăn nuôi lợn rất phong phú, từ thức ăn thô xanh đến các loại thức ăn hạt, từ các loại thức ăn có nguồn gốc động vật tới các loại thức ăn khoáng, vitamin. Lợn có thể sử dụng các loại thức ăn thô xanh cao đặc biệt là lợn nội, do tập quán chăn nuôi của nhân dân ta từ trước đến nay chủ yếu sử dụng thức ăn thô xanh để nuôi lợn. Thức ăn xanh có vai trò đặc biệt đối với lợn nái sinh sản.
Do ăn nhiều thức ăn xanh cho nên trong cơ quan tiêu hóa của lợn nội, ruột già thường phát triển hơn lợn ngoại, vì ruột già và manh tràng là bộ phận chủ yếu của lợn lợi dụng sự phát triển của hệ vi sinh vật để phân giải cellulose, do đó trong điều kiện sử dụng nhiều rau xanh để nuôi lợn thì các giống lợn nội của ta vẫn có khả năng sinh trưởng tốt, ngược lại các giống lợn nhập nội sinh trưởng kém hơn. Song nếu trong điều kiện thức ăn tốt (chủ yếu là thức ăn tinh) thì các giống lợn ngoại sinh trưởng phát triển tốt hơn lợn nội. Đây cũng là minh chứng cho khả năng chịu đựng kham khổ của giống lợn nội tốt hơn so với lợn ngoại. Năng suất thịt, chất lượng thịt mỡ Do khả năng sinh sản của lợn nái cao, một năm một lợn nái có thể sản xuất được 20 – 25 lợn con.
Nếu đem nuôi vô béo thì sau 1 năm một lợn nái có thể góp phần sản xuất khoảng 2 tấn thịt, ngoài lợn ra không có loài gia súc nào có khả năng cho thịt nhanh như vậy. Mặt khác, lợn có tốc độ sinh trưởng nhanh, 6 có khả năng tích lũy mỡ và protein cao. Nếu so với các loài gia súc khác thì lợn có hệ số sinh trưởng và tỷ lệ thịt xẻ cao nhất. Lợn không những có khả năng sản xuất thịt cao mà phẩm chất thịt cũng tốt.
Thịt lợn có nhiệt năng trong 1kg thịt cao đạt tới 2680 Kcal/kg, trong khi đó 1 kg thịt bò có 1710 Kcal. Trong thành phần dinh dưỡng của lợn thịt, protein chiếm tỷ lệ tương đối cao. Protein của thịt lợn có chứa tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể con người. Thành phần lipit trong thịt vừa làm cho thịt có giá trị năng lượng cao hơn vừa tăng mùi vị thơm ngon của thịt.
Khả năng thích nghi, huấn luyện Lợn là loài gia súc có khả năng thích nghi cao với các điều kiện khí hậu khác nhau, do đó địa bàn phân bố của chúng tương đối rộng rãi trên thế giới. Lợn tích lũy mỡ dưới da nhiều để chống lạnh, trái lại tại vùng nóng thì lợn lại tăng cường hô hấp để thải nhiệt, duy trì thân nhiệt bình thường. Khả năng thích nghi của lợn còn thể hiện ở khả năng duy trì được các đặc điểm về sinh trưởng phát triển, tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm tốt này cho đời sau. Khi di chuyển từ vùng này sang vùng khác, từ vùng ôn đới sang vùng nhiệt đới và ngược lại thì lợn vẫn giữ được các đặc điểm của giống.
Lợn là loài gia súc dễ huấn luyện. Trong thực tiễn sản xuất, người ta lợi dụng đặc điểm này để tập cho lợn các phản xạ có điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý lợn như tập cho lợn có phản xạ bài tiết phân, nước tiểu đúng nơi quy định, tập cho lợn ăn đúng chỗ, đúng giờ, huấn luyện lợn đực giống nhảy giá để khai thác tinh trong truyền giống nhân tạo… 1. Ngoại hình thể chất của lợn 1. Đánh giá ngoại hình của vật nuôi a, Khái niệm ngoại hình Các khái niệm về ngoại hình, sinh trưởng, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi là những tiêu chuẩn chọn lọc vật nuôi, giữ chúng lại làm giống, 7 nhằm tạo ta đời sau theo mong muốn của người chăn nuôi.
Với các tính trạng ngoại hình, người ta có thể đánh giá bằng quan sát để mô tả; còn đối với các tính trạng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt, người ta chỉ có thể mô tả đánh giá chúng bằng các phép đo (Dương Mạnh Hùng và cs, 2004) [10]. b, Đặc điểm ngoại hình của lợn Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [23] muốn xác định chính xác ưu, khuyết điểm về ngoại hình, người làm công tác giống phải nắm vững từng bộ phận trên cơ thể lợn và đặc điểm cấu tạo của chúng. - Đầu và cổ: Bao gồm có các bộ phận sau: Đầu, trán, mõm, tai, mắt, hàm, cổ. + Đầu: Khi giám định ngoại hình lợn, cần quan sát hình dáng đầu, mức độ to nhỏ của nó.
Đầu to hay nhỏ thường thống nhất với thân hình và tỷ lệ thuận với nhau: dài đầu thường chiếm 18 – 24% dài thân. + Trán: Nhìn chung khi lợn có trán rộng thì thân cũng rộng và phát dục nhanh. Những giống lợn đã được cải tiến thì trán rộng, các giống lợn nguyên thủy thì trán hẹp. Do đó khi chọn giống cần chọn những cá thể có trán rộng.
+ Mõm: Hình dáng và độ dài của mõm là đặc trưng cho từng giống lợn. Mõm cong và quá ngắn hoặc mõm quá dài đều không tốt. Khi chọn lợn nên chọn những con có mõm vừa phải, có sự kết hợp tốt giữa hàm trên và dưới. + Tai: Hình dáng và độ to nhỏ của tai là đặc trưng của giống: Lợn Ỉ tai nhỏ và đứng, lợn Landrace tai to và rủ xuống.
Về độ dày và mỏng của tai thể hiện thể chất của lợn. Nếu lợn có tai dày chứng tỏ thể chất thô, tai mỏng thể chất nhanh. Lợn tốt có tai mỏng và gốc tai hơi cứng. + Mắt: Mắt phải sáng, tròn nhanh nhẹn, không lồi, lõm quá sâu, không có nhiều nếp nhăn ở mi mắt.
Mắt nhanh nhẹn là mắt tốt và thể chất khỏe mạnh.