Đặt vấn đề Cùng với chăn nuôi lợn, chăn nuôi gia cầm chiếm vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật cho con người. Các sản phẩm trứng và thịt gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao, tương đối đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng. Trứng gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao, trong trứng có tới 12,5% protein, thịt gia cầm có 10 - 20 % protein, trong khi đó ở thịt bò là 20% protein và ở thịt lợn là 18% protein. Trên thế giới, các nhà khoa học đánh giá rất cao vai trò của trứng trong dinh dưỡng.
Cùng với sữa, lượng trứng tiêu thụ bình quân trên đầu người là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá mức sống của người dân trong một xã hội văn minh. Sản xuất trứng đang là hoạt động rất sôi động trong ngành chăn nuôi gia cầm nhằm tạo ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đời sống xã hội. Để đạt được mục đích này, Việt Nam đã cho nhập một số giống gia cầm có năng suất, chất lượng tốt như: gà Lương Phượng, Leghorn, Goldline, Ai Cập, ISA Brown… Hiện nay, ở nước ta đã và đang có xu hướng đầu tư, phát triển mạnh chăn nuôi gia cầm theo hướng lai tạo giống. Với sự tiến bộ của khoa học, nhiều giống gia cầm mới ra đời do sự lai tạo đó của việc chọn và nhân giống.
Xuất phát từ những vấn đề trên, để có những số liệu cụ thể về khả năng sản xuất trứng của một giống gà mới như gà VCZ16 để làm cơ sở khuyến cáo cho người chăn nuôi giúp cho người chăn nuôi có thêm cơ sở lựa chọn con giống để chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao đồng thời giúp những người chăn nuôi gà chuyên trứng tại Thái Nguyên có thể tham khảo, lựa chọn phương thức chăn nuôi phù hợp nhằm đạt năng suất cao, chất lượng tốt, khai thác triệt để khả năng vốn có của giống, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sản xuất trứng của gà VCZ 16 nuôi chuồng hở tại Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá được khả năng sinh sản của gà VCZ16 nuôi chuồng hở. - Đánh giá hiệu quả kinh tế khi nuôi gà VCZ16 trong sản xuất. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Các kết quả nghiên cứu đạt được là những tư liệu khoa học về khả năng sản xuất trứng của gà VCZ 16 nuôi tại trại gia cầm VM, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên phục vụ cho nghiên cứu, học tập của giảng viên và sinh viên trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm. Có thể so sánh sức sản xuất với các giống gà chuyên trứng khác đã từng nuôi cùng phương thức ở Thái Nguyên và địa phương khác. Ý nghĩa thực tiễn Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và tích lũy kinh nghiệm trong việc chăn nuôi gia cầm tại các cơ sở sản xuất. Từ đó giúp sinh viên củng cố và nâng cao được kiến thức chuyên môn.
Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các trang trại và người chăn nuôi có biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi giống gà này tại Thái Nguyên. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như tuổi thành thục sinh dục, năng suất trứng, khối lượng trứng, hình dáng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh, khả năng ấp nở.
Khả năng sinh sản của gia cầm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Yếu tố di truyền, giống, dòng, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ chiếu sáng, phương thức nuôi,. Sinh lý sinh sản ở gia cầm mái Gia cầm là loài đẻ trứng, trứng khi được thụ tinh và được ấp sẽ nở cho ra con gia cầm non. Con mái thoái hóa buồng trứng bên phải chỉ còn lại buồng trứng và ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển. Âm đạo gắn liền với tử cung và cũng nằm trong lỗ huyệt, do đó lỗ huyệt đảm bảo ba chức năng: thải phân, thải nước tiểu và là cơ quan sinh dục.
Kích thước và hình dạng của buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loài gia cầm. Gà 1 ngày tuổi buồng trứng có kích thước 1 - 2 mm, khối lượng 0,03g. Thời kì gà đẻ trứng, buồng trứng có hình chum nhỏ, khối lượng khoảng 45 – 55g chứa rất nhiều tế bào trứng. Sự hình thành buồng trứng và tuyến sinh dục xảy ra vào thời kì đầu của sự phát triển phôi.
Sau mỗi lứa tuổi lại có những thay đổi về cấu trúc và chức năng của buồng trứng. Chức năng chủ yếu của buồng trứng là tạo trứng. Quá trình phát triển của tế bào trứng trải qua ba thời kì: tăng sinh, sinh trưởng và chín. Trước khi bắt đầu đẻ, buồng trứng gà có khoảng 3500 – 4000 tế bào trứng, mỗi tế bào có một noãn hoàng.
h 4 Tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ. Trong 3 - 14 ngày lòng đỏ chiếm 90 – 95% khối lượng tế bào trứng, thành phần chính gồm: protein, photpholipit, mỡ trung tính, các chất khoáng và vitamin. Đặc biệt lòng đỏ được tích lũy mạnh vào giai đoạn từ 9 đến 4 ngày trước khi rụng trứng. Việc tăng quá trình sinh trưởng của tế bào là do foliculin được chế tiết ở buồng trứng khi gà mái thành thục sinh dục.
Sự rụng trứng được tính khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng rơi vào loa kèn. Sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày, nếu gà đẻ trứng vào cuối buổi chiều (16 giờ) thì sự rụng trứng thực hiện vào buổi sáng ngày hôm sau. Trứng được giữ lại trong ống dẫn trứng làm đình trệ sự rụng trứng tiếp theo. Sự rụng trứng của gà thường xảy ra từ 2 – 14 giờ.
Chu kì rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố: điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm. Nếu thức ăn kém chất lượng, nhiệt độ không khí cao sẽ làm giảm sự rụng trứng và đẻ trứng (theo Auas R. Ví dụ, ở Xí nghiệp Gà giống Lương Mỹ, Tam Dương vào mùa nóng (tháng 5 - 7) với nhiệt độ 35 - 400C thì sức đẻ trứng của gà ISA đã giảm 15 - 20%. Gà nhiễm bệnh cũng hạn chế khả năng rụng trứng (Lê Huy Liễu và Cs, 2003) [22].
Cơ chế điều hòa quá trình phát triển và rụng trứng Các hormone hướng sinh dục của tuyến yên là FSH và LH kích thích sự sinh trưởng và chín của trứng. Nang trứng tiết Oestrogen trước khi trứng rụng vừa có tác dụng kích thích tác động của ống dẫn trứng vừa ảnh hưởng lên tuyến yên ức chế tiết FSH và LH. Như vậy tế bào trứng phát triển và chín chậm lại làm ngưng rụng trứng khi tế bào còn trong ống dẫn trứng hoặc tử cung (khi gà chưa đẻ). Gà mái đẻ trứng hai lòng là do FSH và LH hoạt động mạnh kích thích tác động một lúc hai tế bào trứng cùng chín và rụng.
LH chỉ tiết vào buổi tối, h 5 từ lúc tiết đến lúc bắt đầu rụng trứng khoảng 6 – 8 giờ. Vì vậy việc chiếu sáng bổ sung vào buổi tối làm chậm tiết LH dẫn đến chậm rụng trứng từ 3 – 4 giờ. Việc chiếu sáng 3 – 4 giờ buổi tối thực chất là để gà đẻ tập trung vào khoảng 8 – 11 giờ sáng. Nếu không đảm bảo đủ thời gian chiếu sáng 15 – 18 giờ/ ngày thì gà có khả năng đẻ cách nhật và giảm năng suất trứng.
Cơ chế điều hòa quá trình đẻ trứng Tác nhân kích thích đầu tiên tới sự phát triển của hệ sinh dục ở gà là các hormone hướng sinh dục từ tuyến yên, tiếp theo FSH kích thích nang trứng sinh trưởng phát triển. LH kích thích trứng chín và rụng. Cuối cùng nang trứng tiết Ostrogen kích thích sự phát triển và hoạt động của ống dẫn trứng. Để điều hòa quá trình chín và rụng, tuyến yên tiết Oxytoxin tăng cường co bóp cơ trơn ống dẫn trứng và tử cung, tiết prolactin ức chế FSH và LH.
Sau khi trứng rụng, bao noãn co lại tiết progesterone duy trì hình thành trứng ở ống dẫn trứng và trạng thái hoạt động của nó. Vì vậy, để điều chỉnh nhịp nhàng chức năng bộ máy sinh sản phải nhờ mối quan hệ khăng khít giữa tuyến yên và vùng dưới đồi. Khả năng đẻ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, tuổi đẻ, trạng thái sinh lý, đặc điểm cá thể, điều kiện nuôi dưỡng và các yếu tố môi trường. Trong các yếu tố môi trường thì ánh sáng ảnh hưởng nhất đến sự phát triển chức năng sinh dục của gia cầm.
Dùng ánh sáng nhân tạo kích thích cho gà đẻ sớm. Tuy nhiên việc đẻ sớm có nhiều điều bất lợi là gà chưa đạt đủ khối lượng cơ thể, do đó trứng đẻ ra bé, chu kì sinh học ngắn, kết thúc đẻ sớm dẫn đến năng suất kém. Vì vậy trong chăn nuôi gia cầm đẻ trứng phải hạn chế thức ăn và ánh sáng để kéo dài tuổi thành thục về tính và thể vóc ở mức cho phép (Nguyễn Huy Đạt và cs, 1991 [8). Ví dụ đối với gà hướng trứng khi đạt khối lượng khoảng 1260g đối với gà mái và 1450g đối với gà trống ở 133 ngày tuổi.
Gà đẻ trứng giống thịt như h 6 ISA, AA phải nuôi hạn chế thức ăn đến 140 ngày tuổi, khối lượng sống đạt 2150g đối với gà mái và 2500g đối với gà trống, sau đó mới cho gà ăn tăng lên để thúc đẻ. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ dinh dưỡng của gà hậu bị sẽ nâng cao sức đề kháng của gà đẻ, khối lượng trứng to, thời gian đẻ kéo dài. Ví dụ gà Leghorn có thể đẻ được 180- 250 quả/ mái/ năm, gà ISA, AA đạt 120- 125 quả/ mái 60 tuần tuổi. Cơ sở giải phẫu cơ quan sinh dục gia cầm Khác với với gia súc và các loài động vật khác, các nhà phôi thai học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: Trứng của gia cầm là một tế bào sinh sản khổng lồ, bao gồm lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ.
Buồng trứng có chức năng hình thành lòng đỏ. Còn các phần khác được hình thành trong quá trình trứng theo ống dẫn trứng ra ngoài, trước hết là lòng trắng tiếp là màng vỏ và cuối cùng là vỏ.