Đặt vấn đề Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 1/10/2017, đàn gia cầm cả nước có 385,5 triệu con, tăng khoảng 6,6% so cùng kỳ năm 2016; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 1,03 triệu tấn, tăng 7,3%; sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 12,6%. Đặc biệt sản lượng trứng gia cầm có dấu hiệu tăng cao là: Thái Nguyên tăng 33,04%; Bắc Giang tăng 15,02%; Phú Thọ tăng 41,58%; Thanh Hóa tăng 14,86%; Hà Tĩnh tăng 19,48%; Bình Định tăng 27,81%; Lâm Đồng tăng 18,23%; Long An tăng 26,97%; Tiền Giang tăng 20,47% và Sóc Trăng tăng 38,99% [32]. Chính vì thế, ngành chăn nuôi gia cầm đã và đang cho thấy được vai trò rất lớn trong việc cung cấp thực phẩm và nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày cho con người. Trong các giống gà hướng trứng cho năng suất trứng cao đang nuôi ở Việt Nam hiện nay, giống gà Ai Cập, HA1, HA2, GT34, VCZ 16 là những giống gà hướng trứng chủ lực và có những ưu nhược điểm nhất định.
Trong đó gà VCZ 16, là sản phẩm của chương trình hợp tác song phương giữa Việt Nam và Cộng hòa Séc, nghiên cứu lựa chọn và phát triển hai dòng gà hướng trứng, hướng thịt phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam [33]. Ở nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm về mùa hè, lạnh ẩm về mùa đông, thay đổi thất thường khiến cho đàn gia cầm rất dễ bị mắc bệnh. Tuy nhiên, hiện nay, mầm bệnh ở gia cầm rất nhiều và gây khó khăn cho người chăn nuôi, đặc biệt những giải pháp khắc phục chưa được cụ thể. Vì vậy việc nghiên cứu về gà cho sản phẩm trứng và tỷ lệ nhiễm bệnh để đưa ra biện pháp điều trị hiệu quả là cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát dục và tỷ lệ mắc bệnh của đàn gà VCZ 16 thương phẩm nuôi tại Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Bản thân tập làm quen với công tác nghiên cứu. - Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng, phát dục của gà VCZ 16 nuôi tại Thái Nguyên. - Xác định được tỷ lệ mắc bệnh của đàn gà VCZ 16 nuôi tại Thái Nguyên - Có đủ minh chứng khoa học để đánh giá khả năng sản xuất của gà VCZ 16 và làm căn cứ để hoàn thiện qui trình nuôi trong nông hộ.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả của đề tài góp phần bổ sung thêm những thông tin vào tài liệu học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành chăn nuôi và thú y của các trường Đại học Nông Nghiệp. - Có số liệu nghiên cứu về sức sống, sinh trưởng, phát dục của gà VCZ 16 nuôi tại Thái Nguyên, từ đó góp phần vào làm phong phú số liệu về khả năng sinh trưởng và phát dục của giống gà này. Ý nghĩa thực tiễn - Là cơ sở để người dân lựa chọn giống gà sao cho phù hợp với mục đích chăn nuôi.
- Là cơ sở để khuyến cáo người dân chọn đúng thuốc điều trị. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Sinh trưởng 2.
Khái niệm Sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước. Sự sinh trưởng chính là sự tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992) [8]. Theo Chamber (1990)[21], đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận như thịt, xương, da.
Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng. Sự tăng trưởng thực sự khi các tế bào mô cơ có tăng thêm về khối lượng, số lượng và các chiều đo. Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trưởng, nó được được gọi là sự tăng trọng của cơ thể, vì béo mỡ chủ yếu là tích lũy nước, không có sự phát triển của thân, mô cơ. Sự sinh trưởng của sinh vật bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: Giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ).
Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình: Tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính. Theo Phùng Đức Tiến (1996) [15], trong quá trình sinh trưởng thì trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống. h 4 Theo Trần Thanh Vân và cs (2015)[18], sinh trưởng là đặc điểm chất lượng phản ánh sức sản xuất, nó mang tính di truyền và liên quan đến những đặc điểm trao đổi chất và kiểu hình của dòng, giống. Đặc điểm này có ý nghĩa trong thực tế rất lớn.
Nếu giống gia cầm nào đó có sức sinh trưởng nhanh thì vỗ béo và giết thịt sớm hơn, sử dụng thức ăn tốt hơn. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992)[8], cho biết: Theo Driesch H. (1990) thì sự tăng thể khối của cơ thể là là do các tế bào trong cơ thể tăng về số lượng và kích thước. Theo tài liệu của Chambers (1990) [21] thì Mozan (1997) định nghĩa sinh trưởng là tổng hợp sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da.
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hóa phức tạp duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành. Để có được số đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng (Chambers, 1990) [21]. Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp, khá dài, từ lúc thụ tinh đến khi trưởng thành.
Do vậy, việc xác định chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng không phải dễ dàng. Tuy nhiên các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng cách đo đơn giản và thực tế, đó là khả năng sinh trưởng theo 3 hướng là chiều cao, thể tích và khối lượng (Chambers, 1990) [21]. Khối lượng cơ thể: Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp, tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Do vậy, có thể lấy h 5 việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc, gia cầm.
Khối lượng cơ thể gia súc, gia cầm là những tính trạng di truyền số lượng. Sinh trưởng có khả năng di truyền cao và liên quan chặt chẽ với những đặc điểm trao đổi chất đặc trưng cho từng giống và từng cá thể gia cầm. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992)[8] cho rằng, sinh trưởng là cường độ tăng các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Trong chăn nuôi gia cầm người ta thường dùng 3 chỉ tiêu để mô tả sinh trưởng là sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối.
– Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát. Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng gam/con/ngày hoặc gam/con/tuần. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn (T.
– Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ % tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.N 2, 1977) [16], đơn vị tính là %. Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng Hypebol. Sinh trưởng tương đối giảm dần qua các tuần tuổi. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992)[8] cho biết có mối quan hệ ở cơ thể gia cầm giữa sinh trưởng và một số tính trạng liên quan.
Mối liên quan giữa sinh trưởng và tốc độ mọc lông đã được xác định, cũng có mối quan hệ giữa sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn. – Sinh trưởng tích lũy: Cân nặng và kích thước có được trong bất cứ một giai đoạn nào đều thể hiện kết quả tích lũy kích thước và cân nặng của gia súc, gia cầm được xác định trước khi sinh trưởng và phát dục. Nó là căn cứ để đánh giá sự sinh trưởng phát dục tốt hay xấu của vật nuôi trong một độ tuổi nhất định. Nếu thể hiện bằng phương pháp đồ thị thì độ tuổi là trục hoành, h 6 kích thước và cân nặng là trục tung.
Đường đồ thị thông thường là hình chữ S. Nhưng đường đường cong sinh trưởng đo được thực tế thừơng có sự khác nhau do sự khác nhau trong gây giống, loại giống và quản lí nuôi dưỡng. Theo Trần Văn Thăng (2017)[13], sinh trưởng tích lũy là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng, nghĩa là các thời điểm thực hiện các phép đo. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm - Ảnh hưởng của dòng, giống Tốc độ sinh trưởng cuả gia cầm phụ thuộc vào loài, giống, dòng, cá thể.Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) [19], khi nuôi gà thịt Tam Hoàng ở 85 ngày tuổi cho thấy dòng 882 có khối lượng trung bình đạt 1418 g trong khi dòng Jiangcun chỉ đạt 1248 g.
Các loài gia cầm khác nhau thì có khả năng sinh trưởng hoàn toàn khác nhau. Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [18], tốc độ tăng trưởng tương đối của một số giống gà ở các giai đoạn tuổi là hoàn toàn khác nhau. Ở tháng thứ nhất của gà 150%, của vịt là 180%, của ngỗng là 170%, ở tháng thứ năm lần lượt là 20%, 4% và 7%. - Ảnh hưởng của tuổi Cũng như các loài vật nuôi khác, quá trình sinh trưởng, phát dục của gia cầm từ khi mới nở đến khi già và chết chịu sự chi phối của quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều.
Tuổi gia cầm càng già thì năng suất trứng càng thấp. Thường năm thứ 2 giảm 15 – 20 % so với năm thứ nhất. Đối với vịt đẻ cao ở năm thứ 2 và giảm dần ở các năm tiếp theo.