Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên và huyện Phú Lương 1. Tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên 1. Vị trí địa lí – điều kiện tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc bộ, phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội.
Tổng diện tích đất là 3.562,82 km², trong đó đất đã sử dụng là 246.513 ha (chiếm 69,22 % diện tích đất tự nhiên) và đất chưa sử dụng là 109. Trong đất chưa sử dụng có 1.714 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp và 41.250 ha đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp (www. Tình hình sản xuất nông nghiệp - Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng năm 2013 là 90. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 445.
Trong đó: + Cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy cả năm 72.576 ha, năng suất bình quân 50,98 tạ/ha; sản lượng 370. Diện tích đất lúa của tỉnh ổn định đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 là 39. Đầu tư cơ sở hạ tầng và áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ đảm bảo diện tích gieo trồng lúa đến năm 2020 là 69.000 ha, định hướng đến năm 2030 là 70.000 ha có thuỷ lợi hoàn chỉnh. Năng suất lúa năm 2015 dự kiến 53 tạ/ha; năm 2020 đạt 4 56 tạ/ha và định hướng đến năm 2030 đạt 62 tạ/ha.
Sản lượng: dự kiến đến năm 2020 là 386. + Diện tích để trồng lúa bố trí chủ yếu theo 2 hướng: Sản xuất lúa thâm canh năng suất cao và sản xuất lúa hàng hoá chất lượng cao. Vùng lúa hàng hoá chất lượng cao tập trung chủ yếu: Dự kiến năm 2015 là 4.500 ha và năm 2020 là 6.000 ha diện tích lúa có điều kiện tưới tiêu, hoàn chỉnh hệ thống nội đồng để trồng lúa chất lượng cao (tập trung ở TP Thái Nguyên; TX Sông Công; Phú Lương; Đồng Hỷ; Đại Từ; Phú Bình; Phổ Yên) nhằm tạo ra sản phẩm lúa gạo có chất lượng cao phục vụ nhu cầu tiêu thụ cho người dân sống ở các khu đô thị, khu công nghiệp. Áp dụng những biện pháp thâm canh tiên tiến để đảm bảo năng suất và chất lượng của các giống lúa.
Vùng sản xuất lúa thâm canh năng suất cao: năm 2015 có diện tích là 11.500 ha và năm 2020 là 14.500 ha lúa năng suất cao. Tập trung chủ yếu ở huyện Phú Bình, Phổ Yên, Đại Từ. + Cây ngô: Là cây trọng điểm trong chương trình phát triển cây trồng vụ đông của tỉnh để góp phần nâng cao hệ số sử dụng đất tăng thu nhập/1 ha đất canh tác. Bố trí diện tích trồng ngô cả năm đến năm 2015, năm 2020 và định hướng đến năm 2030 ổn định ở 20.000 ha, diện tích ngô lai chiếm 95% diện tích gieo trồng.
Tổng diện tích gieo trồng cả năm 17.941 ha, năng suất bình quân 42,07 tạ/ha; sản lượng đạt 75. Cơ cấu giống ngô lai chiếm trên 98% diện tích gieo trồng; + Đậu tương: Diện tích 1.418 ha, sản lượng 2. Toàn tỉnh đẩy mạnh phát triển đậu tương, nhất là tận dụng trên đất 2 vụ lúa. Cần đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, đưa giống mới vào thâm canh tăng vụ, nâng cao năng suất cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tại chỗ của nhân dân và cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, chế biến thực phẩm trong giai đoạn tới.
Dự kiến đến năm 2020 là 4. 5 + Lạc: Diện tích 4.284 ha, sản lượng 6. Tăng diện tích lạc hè thu, lạc đông, trong đó vụ lạc đông chủ yếu mở rộng trên đất 2 lúa được tưới tiêu chủ động. Dự kiến diện tích lạc đến năm 2020 là 7.
+ Khoai lang: Diện tích 6.252 ha, sản lượng 39.568 tấn; + Sắn: Diện tích 3.7841 ha, sản lượng 55.752 tấn; - Chăn nuôi + Tổng đàn trâu, bò là 104.943 con, trong đó: Trâu 70. + Tổng đàn lợn là 544. + Sản lượng thịt hơi xuất chuồng các loại đạt: 82.322 tấn trong đó: Trâu 3.342 tấn, gia cầm 13. Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Phú Lương 1.
Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của huyện Phú Lương - Vị trí địa lý: Phú Lương là huyện miền núi thấp nằm ở phía Bắc tỉnh Thái Nguyên. Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thái Nguyên khoảng 22 km theo quốc lộ 3, với vị trí địa lý: phía Bắc giáp tỉnh Bắc Cạn; phía Nam giáp Thành phố Thái Nguyên; phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ và phía Tây giáp huyện Đại Từ. Huyện có tổng diện tích tự nhiên 36.894,65 ha với 16 đơn vị hành chính, bao gồm thị trấn Đu, thị trấn Giang Tiên và 14 xã. Thị trấn Đu là trung tâm huyện lỵ.
Nằm kề với Thành phố Thái Nguyên (trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh và khu vực) và có trục giao thông huyết mạch (Quốc lộ 3) nối Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Cạn – Cao Bằng. Đây là điều kiện thuận lợi để Phú Lương phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, hàng hóa. 6 Các xã khu vực phía Bắc và Tây Bắc có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp ra nhiều khe suối, độ cao trung bình 300 ÷ 400m, độ dốc lớn, phần lớn diện tích có độ dốc trên 20o. Các xã phía Nam huyện có địa hình bằng phẳng hơn, độ dốc thường dưới 15o, tương đối thuận tiện cho phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm (UBND huyện Phú Lương, 2013) [39].
Sản xuất trồng trọt có liên quan đến chăn nuôi: Trước khi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu chúng tôi đã điều tra và đánh giá sơ bộ về thực trạng sản xuất, chăn nuôi trên địa bàn huyện Phú Lương, kết quả thu được như sau: Bảng 1.1: Thực trạng sản xuất, chăn nuôi tại huyện Phú Lương Đơ vị Sản Stt Diện tích đất tính Diện tích lượng 1 Đất tự nhiên ha 36.894,65 2 Đất nông nghiệp ha 30.503,30 3 Đất sản xuất nông nghiệp ha 12.450,05 4 Đất lâm nghiệp ha 17.223,86 5 Đất nuôi trồng thủy sản ha 829,39 6 Đất trồng lúa ha 4.077,09 7 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi ha 49,52 8 Diện tích gieo trồng lúa Tấn 6.981 9 Diện tích trồng ngô Tấn 1000 5.500 10 Diện tích trồng đỗ tương Tấn 90 80 11 Tổng sản lượng lương thực cây có hạt Tấn 41.560 12 Tổng đàn gia cầm Con 867.04 13 Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng Con 2.705 14 Sản lượng trứng các loại/ năm Quả 10,5 triệu ( Theo số liệu của Phòng Nông nghiệp & PTNT cung cấp) 7 Kết quả điều tra cho thấy: Diện tích đất nông nghiệp của huyện Phú Lương rất lớn nhưng hiện nay mới sử dụng được khoảng 50%. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt 41. Trong đó: sản lượng thóc ước đạt 35.981 tấn, sản lượng ngô ước đạt 5.579 tấn, đỗ tương 80 tấn. Diện tích gieo trồng lúa cả năm 2013 là 6.904 ha, sản lượng là 35.981 tấn, Diện tích đất lúa là đồng bãi chăn thả vịt, tận dụng lượng lúa rơi vãi sau khi thu hoạch, đem lại thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi thủy cầm; đồng thời, với sản lượng lúa gần 36 nghìn tấn qua xay xát có thể thu được cám là nguyên liệu để chế biến thức ăn gia súc hoặc sử dụng trực tiếp cho chăn nuôi (lợn, gà) làm giảm được giá thành sản phẩm chăn nuôi.
Mặt khác, đồng ruộng trồng lúa cũng cung cấp nguồn rơm sử dụng làm thức ăn thô cho trâu bò; song hiện tại lượng rơm sử dụng làm thức ăn thô cho trâu bò còn ít so chủ yếu sử dụng rơm vụ Mùa, còn phần lớn người nông dân để lại rơm tại đồng ruộng. Khi Phú Lương phát triển mạnh đàn trâu, đàn bò, cần khuyến cáo nông dân nên tận dụng rơm phơi khô dự trữ và ủ urê để làm thức ăn, đây là nguồn cung cấp thức ăn thô rất quan trọng trong mùa đông. Ngoài ra, hàng năm có trên 1.000 ha ngô, gần 90 ha đậu tương,… có thể sử dụng phụ phẩm như thân cây ngô, rơm rạ, … làm thức ăn xanh cho chăn nuôi trâu bò. Đặc biệt, hiện nay ở nhiều hộ nông dân đã tận dụng trồng cỏ xen trong vườn cây lâu năm để giải quyết một phần thức ăn thô xanh cho đàn trâu, bò.
Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các trang trại và gia trại chăn nuôi nói chung và gia cầm nói riêng vẫn sử dụng thức ăn chăn nuôi hỗn hợp dạng viên bán sẵn, chỉ có một số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sử dụng nguyên liệu địa phương vào chăn nuôi. Thực trạng chăn nuôi gia cầm của huyện Phú Lương * Diễn biến đàn gia cầm, sản lượng thịt: Tổng đàn gia cầm có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, bình quân tăng 12,21%/năm giai đoạn 2005 - 2013. Về sản lượng thịt tăng trưởng cao hơn so với quy mô tăng tổng đàn trong cùng thời kỳ. Đó là nhờ việc tăng cường đầu tư thâm canh chăn nuôi gia cầm, chăn nuôi trang trại tập trung quy mô lớn.
Tổng đàn gia cầm của huyện năm 2005 là 253 nghìn con, đến 1/10/2013 là 867,04 nghìn con, giai đoạn 2005 - 2013 đạt tốc độ tăng trưởng 22,36%/năm (Chi cục thống kê huyện Phú Lương, 2013)[3]. Năng suất, sản lượng: Hiện nay nuôi gà quay vòng nhanh 3 - 4 lứa/năm, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng năm 2013 là 2.705 tấn, trứng các loại: 10,5 triệu quả. * Phân bố đàn gia cầm: Chăn nuôi gia cầm hiện nay phân bố hầu hết các xã và chiếm vị trí quan trọng trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi huyện: Phấn Mễ là xã có tổng đàn gia cầm lớn nhất ( 494,94 nghìn con), tiếp đến là Cổ Lũng và ít nhất là TT. * Quy mô, phương thức chăn nuôi - Năm 2013 chăn nuôi gia cầm trong nông hộ, chiếm 85,48% tổng đàn và chiếm 51,15% tổng sản lượng thịt của huyện.
- Chăn nuôi theo phương thức trang trại chiếm 6,52% tổng đàn và chiếm 35,88% tổng sản lượng thịt. - Chăn nuôi theo phương thức gia trại chiếm 8,0% tổng đàn và chiếm 12,97% tổng sản lượng thịt (UBND huyện Phú Lương, 2014) [39]. * Công tác thú y và tình hình dịch bệnh Do quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ và ý thức của người chăn nuôi còn hạn chế, nên việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa được coi trọng, 9 công tác tiêm phòng chưa triệt để, dịch bệnh xảy ra nhiều và chí phí thuốc thú y cao dẫn đến thu nhập từ chăn nuôi còn khá khiêm tốn.