CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc và vị trí phân loại của ngựa trong hệ thống phân loại động vật 1. Nguồn gốc của ngựa Ngựa là một phân loài động vật thuộc bộ Guốc lẻ, một trong 8 phân loài còn sinh tồn cho tới ngày nay của họ Equydae. Ngựa đã trải qua quá trình tiến hóa từ 45 đến 55 triệu năm để từ một dạng sinh học nhỏ với chân nhiều ngón trở thành động vật lớn với chân một ngón như ngày nay.
Các hóa thạch cổ nhất đã biết của động vật dạng ngựa có niên đại từ Tiền Eocen, khoảng 54 triệu năm trước. Loài này trong chi Hyracotherium, là động vật có kích cỡ con cáo với 3 ngón tại các chân sau và 4 ngón tại các chân trước. Nó là loại động vật gặm cỏ trên các loại thực vật tương đối mềm và đã thích nghi với việc chạy. Sự phức tạp trong bộ não của nó gợi ý rằng nó là động vật thông minh và luôn cảnh giác.
Các loài sau này đã suy giảm số lượng ngón chân và phát triển bộ răng thích hợp hơn với việc nghiền nhỏ cỏ và thức ăn từ thực vật cứng hơn. Nhóm này trở lên tương đối to lớn hơn trong thể Miocen, với nhiều loài mới đã xuất hiện. Vào thời gian này động vật dạng ngựa đã trở thành giống như ngựa thật sự hơn với sự phát triển hình dáng cơ thể điển hình của ngựa hiện đại. Nhiều loài trong số này phân bố trọng lượng chủ yếu của cơ thể chúng trên ngón trung tâm (ngón thứ 3), còn những ngón khác đã suy giảm và tiếp xúc với mặt đất một cách rõ ràng.
Chủng sống sót hiện nay là Equus đã tiến hóa vào đầu thể Pleistocen và phổ biến nhanh chóng trên toàn thế giới. Vị trí của ngựa trong hệ thống phân loại động vật Theo Đặng Đình Hanh và Phạm Sỹ Lăng (2008) [20], cho biết ngựa có vị trí hệ thống phân loại động vật như sau: Ngựa thuộc giới động vật: Animal Ngành có xương sống: Chordata Ngành phụ có xương sống: Vertebrata Lớp có vú: Mammalia Bộ guốc lẻ: Perissdactyla Họ: Equydae Chủng: Equus Loài: Equus caballus Tên: Caballus 4 1. Các giống ngựa trong nước Ngựa thuộc bộ móng guốc, bốn chân cao chắc khoẻ thích ứng với việc đi, chạy và làm việc trên nhiều loại địa hình đường sá. Ngựa thuộc loài nhạy cảm và nguồn gốc lâu hơn chó và mèo.
Hơn nữa, chúng tồn tại lâu hơn và phát triển thành nhiều giống. * Ngựa Việt Nam Đây là giống ngựa mang đặc điểm thồ là chủ yếu, một phần sử dụng để kéo ở vùng núi, trung du và đồng bằng. Ngựa Việt Nam có sức chịu đựng kham khổ cao, sức chống đỡ bệnh tật tốt, đi lại ở mọi địa hình núi cao, nhưng có tầm vóc nhỏ, ngoại hình chưa cân đối. Chúng có những đặc điểm như: - Thồ hàng: 40-50 kg - Kéo xe: 400-500 kg - Chạy nhanh: đạt 25-28 km/giờ - Sức giật khi kéo xe: 100 kg - Tỷ lệ thụ thai: 76,7% - Tỷ lệ đẻ: 83,8 % Bảng 1.1: Kích thước (cm) và thể trọng (kg) của ngựa ở một số địa phương Tên địa phương Tính Cao Dài Vòng Vòng Thể biệt vây thân ngực ống trọng chéo Phong Thổ- Lai Châu Đực 111,6 113,5 132,5 17 182 Cái 110,6 113,1 130,6 15,9 176 Hoàng Su Phì- Hà Giang Đực 110,3 111 128,4 15,2 168 Cái 109,1 110 127,1 14,3 164 Trùng Khánh- Cao Bằng Đực 113 114,5 130,2 15,9 178 Cái 109,7 107,2 129,8 15,7 164 Phú Lương- Thái Nguyên Đực 116,6 114,6 128 14,4 172 Cái 115,6 113,7 126,8 13,8 168 5 * Ngựa bạch Có rải rác ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lai Châu, Bắc Giang.
Ngựa có khả năng làm việc tốt, chịu kham khổ, xương ngựa bạch dùng để nấu cao làm thuốc bồi bổ sức khoẻ. Toàn thân ngựa từ lông mình, bờm, lông đuôi, từ màu mắt đến móng chân đều trắng hoặc trắng hồng, tai ngựa nhỏ và cuộn tròn rất xinh. Ở Việt Nam ngựa bạch được quý trọng thứ 2 sau hổ, vì vậy có nguy cơ bị tuyệt chủng. Hội Thú Y Việt Nam đã cùng với Trại ngựa Bá Vân hợp tác duy trì nòi giống, tỉ lệ đẻ của ngựa bạch chỉ khoảng 20-25% tổng cái sinh sản.
Hiện nay Hội Thú Y Việt Nam đã xây dựng một cơ sở chăn nuôi tại xã Yên Mỹ - Thanh Trì – Hà Nội đang nuôi 40-50 con ngựa bạch nhằm giữ giống và phát triển phục vụ cộng đồng. Những con không đẻ được, đủ tiêu chuẩn nấu cao sẽ được nấu theo quy trình dân gian 7 ngày 7 đêm. Hội Thú Y đã kiểm tra 21 chỉ tiêu của cao theo quy định của Bộ Y Tế (không kể 17 chỉ tiêu đã kiểm tra tại Viện chăn nuôi quốc gia) và công bố trên tạp chí chăn nuôi 3- 2007. Sau nhiều năm học hỏi kinh nghiệm, hiện nay có một số hộ dân ở các tỉnh cũng biết chăn nuôi ngựa bạch.
Trong đó, ở làng Phẩm xã Dương Thành - Phú Bình có những hộ đã thành công trong việc nhân giống ngựa bạch. Năm 2008 các hộ chăn nuôi ngựa bạch được Trung tâm hỗ trợ thành lập Hội chăn nuôi ngựa bạch với 36 thành viên. Đến nay, Hội chăn nuôi ngựa bạch xã Dương Thành đã có 45 hội viên với hơn 200 ngựa. * Ngựa lai Chủ yếu dùng ngựa giống Cabadin của Liên Xô- một giống ngựa kiêm dụng cưỡi thồ tạp giao với ngựa Việt Nam nhằm nâng cao tầm vóc, thể trọng và sức làm việc của ngựa nước ta.
Ngựa lai có thể trọng cao hơn và nhiều ưu điểm hơn ngựa Việt Nam. Ngựa lai có chiều cao trung bình 122-125cm. Hiện nay trại ngựa Bá Vân ở Phổ Yên đang nuôi ngựa Cabadin thuần chủng để tạo ra nhiều ngựa lai có chất lượng ổn định đồng thời giúp các trạm truyền giống tiếp tục lai tạo nâng cao chất lượng ngựa địa phương. Một số giống ngựa của thế giới * Ngựa ả rập Ngựa Ả Rập từ lâu là giống ngựa nổi tiếng có ngoại hình và màu sắc đẹp được nhiều nước dùng làm nguyên liệu cải tạo giống ngựa địa phương.
Chúng có một số đặc điểm như sau: Cao vây: Con đực : 153,8cm Con cái : 151,4cm Dài thân chéo: Con đực : 154,7cm Con cái : 151,7cm Vòng ngực: Con đực : 177,7cm Con cái : 173,7cm Vòng ống: Con đực : 19,3cm Con cái : 18,7cm Kỷ lục chạy: - 1600 m hết 1 phút 5 giây - 2000 m hết 2 phút 13 giây - 3200 m hết 3 phút 40 giây - 4000 m hết 4 phút 42 giây - 7000 m hết 8 phút 50 giây * Ngựa Cabadin (Liên Xô) Là giống ngựa kiêm dụng cưỡi thồ, được nhập vào nước ta từ lâu đang được nuôi ở trại ngựa Bá Vân để cải tạo giống ngựa địa phương. Chúng có kích thước như sau: Cao vây: Con đực : 155,5 cm Con cái : 149,8 cm Vòng ngực: Con đực : 180,1 cm Con cái : 179,0 cm Vòng ống: Con đực : 19,7 cm Con cái : 18,6 cm * Ngựa Mông cổ Là giống ngựa vùng thảo nguyên, tầm vóc không lớn nhưng có sức chịu đựng dẻo dai và chịu được điều kiện khô hạn của thảo nguyên. 7 Ngựa Mông Cổ là giống ngựa kiêm dụng vừa làm việc vừa khai thác sữa phục vụ cho con người. Nếu ngựa cái được chọn lọc và nuôi dưỡng tốt có thể đạt 1lít sữa/con/ngày.
Ngựa có kích thước như sau (ngựa cái): Cao vây : 126,9 cm Vòng ngực : 154,2 cm Dài thân chéo : 134,2 cm Vòng ống : 16,8 cm 1. Một số phương thức chăn nuôi ngựa hiện nay Ngựa được chăn nuôi rộng khắp ở các vùng địa lý, kinh tế với tập quán hướng sử dụng khác nhau đã tạo nên những phương thức chăn nuôi khác nhau. - Phương thức chăn nuôi bầy đàn: Ngựa được chăn nuôi với số lượng vừa phải trong các hộ gia đình hay trong các nông trang trại với mục đích kết hợp làm việc và sinh sản. Phương thức này đã tồn tại từ lâu đời đối với những dân du mục ở các vùng thảo nguyên hoặc những vùng chăn nuôi chưa phát triển.
Với phương thức này ngựa đực và ngựa cái được nuôi chung đàn, phối giống tự do, ít có sự tác động của con người. Ở nước ta phương thức này đã tồn tại ở một số địa phương: Bắc Kạn, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang. Ngựa được quản lý trong hộ gia đình trong vụ trồng trọt từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Những ngày thả rông cũng là mùa sinh sản, ngựa đực và ngựa cái phối giống tự do.
Phương thức chăn nuôi này cho năng suất rất thấp, dẫn đến khả năng sinh trưởng kém. - Phương thức chăn nuôi bán chăn thả: Phương thức này được áp dụng ở những hộ chăn nuôi có định hướng, có mục đích. Người chăn nuôi có chọn giống, có tác động khoa học kỹ thuật và tuyển ngựa theo mục đích riêng. Theo Heriquez và cs (1980) [88] phương thức này có hai hình thức chăn nuôi đó là: Chăn nuôi ngựa theo từng cá thể: Những ngựa đực và ngựa cái chuyên dùng để nhân giống, hoặc chuyên dùng cho việc sản xuất gắn liền với từng chủ hộ và những yêu cầu nhất định của người chăn nuôi.
Ngựa được tuyển chọn theo mục đích riêng và được quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng riêng biệt. Việc chăn thả ngựa chỉ là hình thức vận động hoặc vận động có quy trình kỹ thuật. Phương thức chăn 8 nuôi này đã có tổ chức phối giống, có sự theo dõi chặt chẽ ngựa đực và ngựa cái, có áp dụng kỹ thuật phối giống và theo dõi đánh giá khả năng sinh sản của ngựa. Sử dụng phương thức chăn nuôi này nếu người chăn nuôi không được trang bị đầy đủ về kỹ thuật sinh sản của ngựa thì tỷ lệ thụ thai thấp.
Chăn nuôi theo nhóm được áp dụng tại các nông hộ hoặc trong các nông trang trại, số lượng ngựa đực và ngựa cái được điều chỉnh theo tỷ lệ và được tuyển chọn nuôi kết hợp sinh sản và làm việc. Phương thức chăn nuôi này có thể áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất định trong việc chọn giống và nâng cao năng suất sinh sản. Ở Việt Nam, phương thức chăn nuôi thả rông ở các tỉnh miền núi mang tính phổ biến, còn ở các tỉnh trung du chăn dắt là phổ biến. Do việc phối giống tự nhiên là hoàn toàn ngẫu nhiên và không có sự tác động kiểm soát của con người dẫn đến mức độ cận huyết cao.
Riêng ngựa cái bạch là được theo dõi và phối giống có chọn lọc với những đực bạch giống tốt. Chính vì vậy mà ngựa bạch gần đây đã được người chăn nuôi quan tâm và phát triển với số lượng lớn hơn.