CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm 1. Ngoại hình của gia cầm Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999)[22] màu sắc da, lông là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống.
Màu sắc và phối hợp màu sắc đã đi vào khía cạnh thẩm mỹ của con người. Màu sắc da, lông là một chỉ tiêu cho chọn lọc: thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần, trên cơ sở đồng nhất đó mà loang là không thuần, đã bị pha tạp. Màu sắc do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc. Hầu như không có tính trạng bên ngoài nào của vật nuôi được những nhà chăn nuôi chú ý bằng sắc lông và đốm.
Vì vậy, không lấy làm lạ khi thấy sắc lông là một tính trạng của phẩm giống và đặc tính của phần lớn phẩm giống đều có yêu cầu nhất định về sắc lông. Sắc tố da, lông của gà được xác định bằng hai loại sắc tố là xantofin và melanin. Xantofin là sắc tố tinh thể màu vàng, chất này gà lấy từ thức ăn, nó chỉ nằm ở da những con có sắc vàng ở da, mỏ và cổ chân đều đồng hợp thể theo gen mà alen trội của nó (W) hạn chế sự tích luỹ cơ - xantofin trong máu và mỡ (Hutt). Melanin có ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi.
Ở những con hoàn toàn có màu, da thường có melanin. Ngoài ra, trong một vài trường hợp đặc biệt, chất này cũng có cả ở lớp da trong, da ngoài. Ở những con đồng hợp thể hay nửa đồng hợp thể do gen lặn (id) liên kết với giới tính, chất melanin không lan rộng được do lớp da trong hạn chế. Nếu lớp da ngoài cũng có chất xantofin thì da có màu óng ánh thấy rõ n 4 qua các tế bào Stratun corneum trong vắt của cẳng chân.
Nếu cũng trong lớp da ấy mà lại có xantofin nữa thì màu trở thành xanh. Ở các giống có màu sắc đen, màu vàng có thể hoàn toàn do màu đen che lấp. Giải thích di truyền màu sắc da của các loại gia cầm như vậy, còn về màu sắc lông thì phức tạp hơn. Sự thay đổi về màu sắc lông do các nguyên nhân: thứ nhất là do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế bào, thứ hai là số lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thâu nhạy ánh sáng của các tế bào ấy (Hutt).
Vì vậy, loại màu sắc này phụ thuộc vào cấu trúc. Ví dụ: các màu xanh, đỏ thường thấy ở gà đen. Ở phần lớn các giống gà, gà trống và gà mái được phân biệt nhau qua bộ lông, lông gáy, vòng cung cánh và lông seo ở gà trống thì nhọn, cong và dài. Tính trạng màu sắc và kiểu lông là tính trạng bị giới hạn bởi giới tính.
Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống, mái. Mào gà rất đa dạng cả về hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ (mào đơn), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ. Cổ, bàn và ngón chân thường có vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da.
Chân thường có vuốt và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh sinh sản và đấu tranh sinh tồn của loài. Chân gia cầm có 4 ngón, hiếm khi 5 ngón vì thế khi phát hiện chân gà Đa Cựa có từ 3-8 cựa (ngón) là phát hiện mới cần có các nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu về giống gà địa phương này. Tập tính và sức đề kháng Tập tính động vật là chuỗi những phản ứng trả lời lại các kích thích của môi trường (bên trong cũng như bên ngoài cơ thể) nhờ đó mà động vật tồn tại và phát triển.
Dựa vào các đặc điểm của tập tính động vật, có thể phân biệt thành 2 nhóm tập tính chính là: tập tính bẩm sinh và tập tính thứ sinh. n 5 Tập tính bẩm sinh (inborn): là những hoạt động cơ bản của cơ thể động vật mà ngay từ khi sinh ra đã có, không cần qua học hỏi, rèn luyện, mang tính bản năng, được di truyền từ bố mẹ, không thay đổi và không chịu ảnh hưởng của điều kiện và hoàn cảnh sống, chúng được quyết định bởi yếu tố di truyền. Tập tính thứ sinh (acquired): là loại tập tính được hình thành trong quá trình sống do học tập hoặc do có sự bàn giao giữa các cá thể cùng loài. Ở những nhóm động vật càng cao, càng tiến hóa, loại tập tính đó học được càng nhiều, do đó chúng càng dễ thích nghi với điều kiện và hoàn cảnh sống.
Ngoài ra, có thể kể loại tập tính thứ ba là tập tính hỗn hợp (mixed). Sức sống và khả năng kháng bệnh là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể. Hiệu quả chăn nuôi bị chi phối bởi các yếu tố bên trong cơ thể (di truyền) và môi trường ngoại cảnh (dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ, dịch tễ, chuồng trại. Lê Viết Ly (1995)[19] cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp.
Sức sống được xác định bởi tính di truyền, đó là khả năng có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh (Johanson, 1972) [13]. Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (Brandsch and cs, 1978) [58]. Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở vùng ôn đới (Trần Đình Miên và cs, 1994) [32]. Trần Thị Mai Phương, (2004) [26] cho biết, tỷ lệ nuôi sống của gà Ác từ 0 - 8 tuần tuổi đạt 93,6 - 96,9%.
Tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ 0 - 9 tuần 92,11% (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999) [42]. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm 1. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển Về mặt sinh học, sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng, sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất định. Trần Đình Miên và cs, (1995)[24] cho biết: Mydedorpho A.F là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi.
* Khái niệm sinh trưởng: Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành. Trần Đình Miên và cs, (1995)[24] đã khái quát: Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền từ đời trước. Mozan, (1977) (trích theo Chamber, 1990)[46] đã định nghĩa: “Sinh trưởng là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng”.
Khái quát hơn, Trần Đình Miên và cs, (1992)[22] đã định nghĩa đầy đủ như sau “Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”. Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và cơ quan của cơ thể luôn luôn phát triển hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục. Về mặt sinh n 7 học, sinh trưởng của gia cầm là quá trình tổng hợp protein thu nhận từ bên ngoài chuyển hoá thành protein đặc trưng cho từng cơ thể của từng giống, dòng làm cho cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước. Sự sinh trưởng ở động vật tuân theo những quy luật nhất định.
Theo Trần Đình Miên và cs, (1994)[23] thì Midedorpho (1987) là người đầu tiên đã phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc. Ông cho rằng ở gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó phần tăng khối lượng giảm dần theo tuổi. Theo Kislowsky (1930) trong tài liệu của Nguyễn Ân, (1984)[1] đã khẳng định: Thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau. Sự sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận cơ quan (mô, xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển nhanh, nhưng ở thời kỳ khác lại phát triển chậm.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Các tính trạng số lượng, trong đó tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể gà, chịu ảnh rất lớn các tác động của môi trường E (Environment). Theo Đặng Vũ Bình (2002)[2]; Nguyễn Văn Thiện và cs, (1995)[29] quan hệ giữa kiểu hình P (Phenotype), kiểu gen G (Genotype) và môi trường E (Environment) được biểu thị bằng công thức P = G + E; Đặng Hữu Lanh và cs, (1999)[15]; Nguyễn Văn Thiện và cs, (1998)[31] cho rằng căn cứ vào mức độ, tính chất ảnh hưởng lên cơ thể gia súc, gia cầm, môi trường E được chia làm hai loại: - Môi trường chung Eg (General environment) tác động thường xuyên liên tục đến tất cả các cá thể trong quần thể. - Môi trường riêng ES (Special environment) tác động đến một số cá thể riêng biệt nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn. n 8 Theo Lê Đình Lương và cs, (1994)[18] các giống gia súc, gia cầm đều nhận được từ tổ tiên, bố mẹ chúng một số gen quyết định tính trạng, trong đó có các tính trạng số lượng.
Đó chính là những đặc điểm di truyền của giống hoặc dòng, nhưng những khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống của chúng như thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và khí hậu.