CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm sinh học của cua biển 1. Hệ thống phân loại Cua biển có tên tiếng Anh là Mud - Crab, Green Crab, hay Mangrove Crab; tên tiếng Việt gọi là cua biển, cua sú, cua xanh, cua bùn (Trần Viết Mỹ, 2011) [12]. Theo Forsskal (1775) loài Scylla serrata được phân loại theo hệ thống phân loại như sau: Ngành: Arthropoda Lớp: Crustacea Bộ: Decapoda Họ: Portunidae Giống: Scylla Loài: Scylla serrata Forsskal Hình 1. Hình thái, cấu tạo ngoài của cua biển Scylla serrata 1.
Phân bố Scylla serrata là loài phân bố rộng nhất và tìm thấy tại Tây Ấn Độ Dương, Nhật Bản và các đảo ở Nam Thái Bình Dương như Nam Phi, Biển Đỏ, Úc, Philippines, Đài Loan, Nhật Bản, các đảo ở Thái Bình Dương (Fuji, Đảo Solomon, New Caledonia và Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 Tây Samoa) (Keenan và ctv, 1998) [50]. Nó phân bố rộng ở các vùng nước lợ, mặn, chất đáy là bùn hoặc cát bùn có ở Indonesia, Malaysia, Singapore, Trung Quốc, Nam Phi, Australia và ở vùng biển nước ta trong các ao, đầm nước lợ (Ruscoe, 2003) [48]. Cua biển thích sống ở nơi có nhiều thực vật thuỷ sinh, có những vùng bán ngập, có bờ để đào hang, tìm nơi trú ẩn, nhất là thời kỳ lột xác. Vùng rừng ngập mặn cửa sông ven biển có nhiều cua sinh sống (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) [19].
Đặc điểm hình thái cấu tạo ngoài Cua biển là loài có kích thước lớn, có thân hình dẹp theo hướng lưng bụng. Toàn bộ cơ thể được bao bọc trong lớp vỏ kitin dày và có màu xanh lục hay vàng sẫm. Cơ thể cua được chia thành hai phần phần đầu ngực và phần bụng (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) [19]. Phần đầu ngực: Phần đầu và phần ngực của cua dính liền với nhau, ranh giới giữa các đốt không rõ ràng.
Căn cứ vào phần phụ mang trên đó mà biết được số đốt tạo thành. Đầu gồm 5 đốt mang mắt, anten và các phần phụ miệng. Ngực gồm 8 đốt mang các chân hàm và các chân bò. Mặt lưng của phần đầu ngực được bao bọc trong giáp đầu ngực (mai cua) (Hoàng Đức Đạt, 2004) [2].
Mặt bụng của phần đầu ngực có các tấm bụng và làm thành vùng lõm ở giữa để chứa phần bụng gập vào. Cua đực có 2 lỗ sinh dục nằm ở gốc của đôi chân bò thứ 5 và dính vào đó một dương vật ngắn. Cua cái có 2 lỗ sinh dục nằm ở gốc đôi chân bò thứ 3 (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) [19]. Phần bụng: Gồm 7 đốt với các phần phụ bị tiêu giảm nằm gấp lại dưới phần đầu ngực (yếm cua) làm cho cua thu ngắn chiều dài và gọn lại giúp cho cua bò được dễ dàng.
Ở con cái chưa trưởng thành, phần bụng hơi vuông, sau khi lột xác tiền giao vĩ yếm trở nên tròn. Phần bụng của cua đực hẹp dần về phía sau có dạng hình tam giác. Ở con cái các đốt bụng 1, 2, 7 khớp động với nhau, các đốt bên và các đốt khác bất động. Ở con đực các đốt bụng 1, 2, 5, 6 khớp động với các đốt bên.
Lỗ hậu môn của con đực và cái đều nằm ở cuối cùng (Hoàng Đức Đạt, 2004) [2]. Đặc điểm dinh dưỡng Hill (1979) đã quan sát thấy rằng thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cua gồm 50% là nhuyễn thể, 21% là giáp xác, ít khi thấy cá xuất hiện trong ống tiêu hóa của cua. Ông kết luận cua không thích nghi tốt với việc bắt những con mồi di động [42]. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Tuy nhiên, tính ăn của cua biến đổi tùy theo giai đoạn phát triển của chúng: - Giai đoạn ấu trùng: Cua thích ăn thực vật và động vật phù du.
Trong điều kiện nuôi cho ăn với nhiều loại thức ăn khác nhau như tảo, luân trùng, Artemia và cả thức ăn viên có kích thước nhỏ. - Giai đoạn cua con, tiền trưởng thành và trưởng thành: Chuyển dần sang ăn tạp như rong to, giáp xác, nhuyển thể, cá hay ngay cả xác chết động vật. Cua có tập tính trú ẩn vào ban ngày và kiếm ăn vào ban đêm, chủ yếu trên đáy biển, tuy nhiên đôi khi cũng bơi trên mặt nước. Nhu cầu thức ăn của chúng khá lớn nhưng chúng có khả năng nhịn đói 10 - 15 ngày ở trên cạn trong điều kiện ẩm ướt (Hill, 1975) [41].
Cua con 2 - 7 cm ăn chủ yếu là giáp xác, cua 7 - 13 cm thích ăn nhuyễn thể và cua lớn hơn thường ăn cua nhỏ, cá…(Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) [19]. - Một nghiên cứu tiếp theo của Hill (1980) cho rằng ở giai đoạn Megalope chúng có tập tính ăn thịt lẫn nhau bởi vì lúc này cơ thể chúng đã xuất hiện cặp càng. Khi thiếu thức ăn, cua biển ăn lẫn nhau. Cua khỏe hơn tấn công cua yếu hơn, cắn gãy càng, vỡ mai rồi ăn thịt.
Tính hung dữ đó có từ ấu trùng Megalope cho đến cua trưởng thành [43]. Trong sản xuất giống nhân tạo thức ăn tươi sống được Brick (1974) đã sử dụng các loại thức ăn tự nhiên bao gồm tảo Chlorella.sp, Brachionus, Zooplankton và Artemia để ương ấu trùng Scylla serrata [35]. Ấu trùng cua được cho ăn với nhiều loại thức ăn khác nhau: Luân trùng, Artemia và thức ăn viên kích thước nhỏ. Khác với cua lớn hoạt động nhiều về đêm, ấu trùng cua có tính hướng quang rất mạnh và có thể dùng ánh sáng để kích thích chúng bắt mồi.
Còn thức ăn để nuôi cua thịt gồm cá, tôm, cua, nhuyễn thể, tảo sợi và các loại phế phẩm từ nhà bếp, lò mổ, xưởng đông lạnh. Cua nuôi thịt hoặc nuôi vỗ được cho ăn mồi chết còn tươi có nguồn gốc động vật (tôm, tép, cá, hai mảnh vỏ, mực có kích thước nhỏ) (Nguyễn Trọng Nho và ctv, 2006) [16]. Cua có đôi mắt kép rất phát triển có khả năng phát hiện mồi hay kẻ thù từ bốn phía và có khả năng hoạt động mạnh về đêm. Khứu giác cũng rất phát triển giúp phát hiện mồi từ xa.
Cua di chuyển theo lối bò ngang. Khi phát hiện kẻ thù, cua lẩn trốn vào hang hay tự vệ bằng đôi càng to và khỏe (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) [19]. Trong điều kiện nuôi, nhiệt độ và độ mặn là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đến tính ăn và hoạt động của cua (Manjulatha và Babu, 1998) [54]. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Trong điều kiện nuôi khẩu phần ăn hằng ngày của ấu trùng và cua con cần được bổ sung acid béo và cholesterol để nâng cao tỷ lệ sống và tăng trưởng.
Youzhu và ctv (2001) báo cáo rằng nâng cao hàm lượng acid eicosapentaenoic (EPA) và acid decoxahexaenoid (DHA) sẽ làm tăng tỷ lệ sống và tăng trưởng của ấu trùng cua Scylla serrata [71]. Đặc điểm sinh trưởng Cua cũng như các loài giáp xác khác, chúng lột xác để biến thái và tăng trưởng. Cua đực tăng trưởng nhanh hơn cua cái và tốc độ tăng trưởng của cua đực khoảng 1,3 g/ngày, trong khi đó cua cái tăng trưởng 0,9 g/ngày (Manganpa và ctv, 1987) [53]. Sự sinh trưởng của cua chịu ảnh hưởng rất nhiều vào các điều kiện môi trường (nhiệt độ, pH, độ mặn, chất lượng nước.) cho đến thành phần thức ăn trong thủy vực.
Lột xác và tái sinh Quá trình phát triển cua trải qua nhiều lần lột xác biến thái để lớn lên. Thời gian giữa các lần lột xác thay đổi theo từng giai đoạn, ấu trùng có thể lột xác trong vòng 2 - 3 hoặc 3 - 5 ngày/lần. Cua lớn lột xác chậm hơn nửa tháng hay một tháng một lần. Sự lột xác của cua có thể bị tác động bởi 3 loại kích thích tố: Kích thích tố ức chế lột xác, kích thích tố thúc đẩy lột xác và kích thích tố điều khiển hút nước lột xác [19].
Đặc biệt, trong quá trình lột xác cua có thể tái sinh lại những phần đã mất như chân, càng…Cua thiếu phụ bộ hay phụ bộ bị tổn thương thường có khuynh hướng lột xác sớm hơn nên có thể ứng dụng đặc điểm này vào trong kỹ thuật nuôi cua lột (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) [19]. Sinh trưởng và lớn lên Chu kì sống của các loài cua biển theo Heasman (1980) được trích dẫn bởi Lee (1992) gồm 4 giai đoạn: Giai đoạn ấu trùng, giai đoạn cua con (chiều rộng mai 20 - 80 mm), giai đoạn tiền trưởng thành (chiều rộng mai 70 - 150 mm) và giai đoạn trưởng thành (chiều rộng mai 150 mm trở lên) [52]. Tuổi thọ trung bình của cua từ 2 - 4 năm qua mỗi lần lột xác trọng lượng cua tăng trung bình 20 - 50%. Kích thước tối đa của cua biển có thể từ 19 - 28 cm với trọng lượng từ 1 - 3 kg/con.
Thông thường trong tự nhiên cua có kích cỡ trong khoảng 7,5 - 10,5 cm. Với kích cỡ tương đương nhau về chiều dài hay chiều rộng giáp đầu ngực (carapace) thì cua đực nặng hơn cua cái (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) [19]. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Tập tính sống Vòng đời cua biển trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn có tập tính sống, cư trú khác nhau (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) [19]: - Ấu trùng Zoea và Megalope: Sống trôi nổi và nhờ dòng nước đưa vào ven bờ biến thái thành cua con. - Cua con: Bắt đầu sống bò trên đáy và đào hang để sống hay chui rúc vào gốc cây, bụi rậm đồng thời với việc chuyển từ đời sống trong môi trường nước mặn sang nước lợ ở rừng ngập mặn, vùng cửa sông hay ngay cả vùng nước ngọt trong quá trình lớn lên.
- Cua đạt giai đoạn thành thục: Có tập tính di cư ra vùng nước mặn ven biển sinh sản. Cua có khả năng bò lên cạn và di chuyển rất xa. Đặc biệt, vào thời kỳ sinh sản cua có khả năng vượt cả rào chắn để ra biển sinh sản. - Ấu trùng Zoea thích hợp với độ muối từ 25 - 30‰, cua con và cua trưởng thành thích nghi và phát triển tốt trong phạm vi 2 - 38‰.
Tuy nhiên, trong thời kỳ đẻ trứng đòi hỏi độ mặn từ 22 - 32‰. Cua biển là loài phân bố rộng, tuy nhiên, nhiệt độ thích hợp nhất từ 25 - 30oC. Cua chịu đựng pH từ 7,5 - 9,2 và thích hợp nhất là 8,2 - 8,8. Cua thích sống nơi nước chảy nhẹ, dòng chảy thích hợp nhất trong khoảng 0,06 - 1,6 m/s (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) [19].