Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Chương này giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Trình bày cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế; Các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu bao gồm mô hình nghiên cứu; Phương pháp thu thập và kỹ thuật phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày thực trạng nuôi cá lóc tại huyện Trà Cú; Thống kê mô tả về mẫu dữ liệu nghiên cứu; Xác định hiệu quả kinh tế nuôi cá lóc của nông hộ; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi cá lóc của các nông hộ. Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị chính sách.
Trình bày tóm tắt kết quả 123doc 5 nghiên cứu; Khuyến nghị các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả nuôi cá lóc của nông hộ trên địa bàn huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Đồng thời, chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Kinh tế hộ gia đình 2. Khái niệm Hộ gia đình là đơn vị sản xuất và tiêu dùng, sử dụng lao động và nguồn vốn cho sản xuất có quy mô nhỏ, sản xuất phân tán, tính chuyên môn hóa trong sản xuất chưa cao (Đào Công Tiến, 2000). Kinh tế hộ gia đình là hoạt động kinh tế gắn liền với gia đình và gia đình là người đứng ra tổ chức hoạt động đó. Một phần sản phẩm làm ra được sử dụng cho tiêu dùng của gia đình (Đào Công Tiến, 2000).
Đặc trưng của kinh tế nông hộ Theo Đào Công Tiến (2000), nông hộ có 2 đặc trưng cơ bản: Về mặt kinh tế: Nông hộ vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện trình độ kinh tế của nông hộ. Các nông hộ ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau. Để thực hiện được các quan hệ kinh tế, nông hộ tiến hành các hoạt động quản trị từ sản xuất, trao đổi, phân phối đến tiêu dùng.
Về mặt xã hội: Các thành viên trong nông hộ có quan hệ huyết thống, thân thuộc và quan hệ hôn nhân. Quan hệ này chi phối mọi hoạt động kinh tế-xã hội của các thành viên. Họ quan tâm đến việc làm, giáo dục, chăm sóc lẫn nhau, xây dựng và phát triển các truyền thống gia đình. Nông hộ sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất kinh doanh.
Ở nông hộ chỉ tiêu thu nhập là quan trọng nhất, không kể thu nhập đó từ nguồn nào, trồng trọt, chăn nuôi hay từ nghề ngoài nông nghiệp. Đó là kết quả chung của lao động gia đình. Người nông dân không tính được cụ thể bằng tiền lao động gia đình đã bỏ ra, mà chỉ tính chi phí cơ hội của lao động gia đình khi tham gia sản xuất. Thu nhập nông hộ Thu nhập nông hộ là phần tiền còn lại của hộ nông dân sau khi trừ tất cả các 123doc 7 chi phí có liên quan mua ngoài như: chi phí vật chất, chi phí thuê lao động.
Ở nông hộ, thu nhập chủ yếu dựa vào công lao động của gia đình bỏ ra. Các thành phần cấu thành thu nhập nông hộ: Ở nông thôn thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào thu nhập trong nông nghiệp bao gồm các nguồn thu từ nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hay làm thuê trong nông nghiệp. Ngoài ra còn có thu nhập từ phi nông nghiệp gồm các nguồn thu như tiền lương, trợ cấp, tiền thu từ các hoạt động thương mại, dịch vụ và các nguồn khác. Vai trò của nông hộ Nông thôn nước ta đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đang tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và nông thôn, coi nông nghiệp nông thôn là tiền đề phát triển của đất nước và đóng vai trò đặc biệt quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cả nước, đảm bảo lương thực cho quốc gia, cho dự trữ và xuất khẩu. Hơn thế nữa, hộ nông dân và xã hội nông thôn còn là nguồn cung cấp lao động dồi dào để phát triển các ngành nghề ở nông thôn nói riêng và đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động cho ngành công nghiệp, du lịch để góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp 2. Vốn trong nông nghiệp Vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp.
Vốn trong nông nghiệp được phân thành vốn cố định và vốn lưu động. Vốn sản xuất nông nghiệp có đặc điểm là tính thời vụ, do đặc điểm của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp và đầu tư vốn trong nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro vì kết quả sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Do chu kỳ sản xuất của nông nghiệp dài nên vốn dùng trong nông nghiệp có mức lưu chuyển chậm. Vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn vốn sau: vốn tích lũy từ trong khu vực nông nghiệp, vốn đầu tư của ngân hàng, vốn tín dụng nông 123doc 8 thôn và nguồn vốn nước ngoài.
Nguồn lao động nông nghiệp Nguồn lao động nông nghiệp bao gồm toàn bộ những người tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Nguồn lao động trong nông nghiệp là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng nguồn lao động. Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của lao động như kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm lao động được xem như yếu tố ảnh hưởng đến gia tăng sản lượng. Do đó, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn lao động chính là đầu tư làm gia tăng giá trị yếu tố đầu vào đặc biệt này.
Đất đai trong nông nghiệp Đất đai giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất. Đất đai tham gia hầu hết vào các quá trình sản xuất của xã hội nhưng tùy thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau (Đinh Phi Hổ, 2010). Nếu trong công nghiệp, thương mại, giao thông, đất đai là sơ sở, nền móng để xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lưới đường giao thông thì ngược lại trong nông nghiệp, đất đai tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất và là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
Giống cây trồng, vật nuôi Các loại giống cây, con có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt cho phép tăng quy mô sản lượng hàng hoá. Các loại giống mới có sức kháng chịu dịch bệnh cao giúp ổn định năng suất cây trồng, vật nuôi; ổn định sản lượng hàng hoá. Công nghệ và kỹ thuật canh tác Công nghệ: Công nghệ được xem là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, năng suất lao động. Ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất sẽ nâng cao hiệu quả sản lượng, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm lao động, chi phí sản xuất, do đó tác động đến gia tăng lợi nhuận cho nông hộ.
Kỹ thuật canh tác: Việc ứng dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến cũng góp phần 123doc 9 làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Hiện nước ta đã và đang đầu tư cho đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư các trung tâm nghiên cứu, hệ thống khuyến nông, do đó, rút ngắn được thời gian chuyển tải kỹ thuật mới đến người nông dân. Hiệu quả kinh tế 2. Khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra với đầu vào được sử dụng.
Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi phí thường xuyên. Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm (Lê Dân, 2006). Hoàng Hùng (2007) cho rằng hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra. Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo quan điểm toàn diện, hiệu quả kinh tế nên được đánh giá trên ba phương diện: Hiệu quả tài chính, xã hội và hiệu quả môi trường. Hiệu quả tài chính mà trước đây ta quen gọi là hiệu quả kinh tế thường được thể hiện bằng những chỉ tiêu như lợi nhuận, giá thành, tỷ lệ hoàn vốn, thời gian hoàn vốn. Hiệu quả xã hội của một dự án phát triển bao gồm lợi ích xã hội mà dự án đem lại như: Việc làm, mức tăng GDP do tác động của dự án, sự công bằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái. Một số tác giả khi đánh giá hiệu quả kinh tế cho rằng cần phân biệt hai khái niệm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra. Còn hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa các lợi ích xã hội thu được và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất. Việc phân biệt hiệu quả tài chính hay hiệu quả xã hội là tùy theo phạm vi và mức độ của sự phân tích là của cá nhân hay cả xã hội khi xem xét.
Hiệu quả tài chính được phân tích trên quan điểm lợi ích cá nhân của từng người đầu tư; chỉ tính toán những lợi lãi thông thường trong phạm vi tài chính để cho người đầu tư ra quyết định đầu tư. 123doc 10 Hiệu quả xã hội thì được phân tích trên lợi ích của toàn xã hội để xem xét sự phát triển chung của xã hội như mức tăng trưởng, sự công bằng xã hội và sự phát triển cộng đồng và cả vấn đề về môi trường. Vì vậy, tùy theo phạm vi xem xét là của cá nhân hay toàn xã hội mà có hiệu quả tài chính hay hiệu quả xã hội. Quan niệm mới về hiệu quả đầu tư cho pháp đánh giá toàn diện hơn các tác động do dự án mang lại, phù hợp với xu thế thời đại và chiến lược tăng trưởng và phát triển bền vững của quốc gia ngày nay.