Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá măng sữa chanos chanos

Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu đặc điểm sinh học và hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá măng sữa Chanos chanos, ứng dụng hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản.

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

201
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm sinh học của cá Măng sữa Chanos chanos

Nghiên cứu đặc điểm sinh học của Chanos chanos tập trung vào các khía cạnh hình thái, dinh dưỡng và sinh sản. Cá Măng sữa có thân hình thon dài, vảy nhỏ và màu sắc bạc đặc trưng. Đây là loài cá có giá trị dinh dưỡng cao, với hàm lượng protein chiếm 24,18% và axit béo không bão hòa đạt 32,11%. Đặc điểm sinh học của loài này cũng bao gồm khả năng thích nghi với môi trường nước lợ và biển, giúp chúng trở thành đối tượng nuôi trồng thủy sản quan trọng.

1.1. Hình thái và phân loại

Chanos chanos thuộc họ Chanidae, là loài duy nhất còn tồn tại trong họ này. Hình thái của cá Măng sữa được mô tả chi tiết qua các đặc điểm như thân hình thon, vảy nhỏ và màu sắc bạc. Loài này được phân loại trong bộ cá Sữa Gonorynchiformes, với vị trí phân loại rõ ràng từ ngành Chordata đến loài Chanos chanos.

1.2. Dinh dưỡng và thức ăn

Cá Măng sữa có tính ăn tạp, thức ăn chủ yếu bao gồm động vật phù du và thực vật thủy sinh. Nghiên cứu chỉ ra rằng, chế độ dinh dưỡng phù hợp giúp tăng trưởng và phát triển tốt, đặc biệt trong giai đoạn ương nuôi. Thức ăn công nghiệp và thức ăn tự nhiên đều được sử dụng để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng của cá.

II. Quy trình sản xuất giống cá Măng sữa

Quy trình sản xuất giống Chanos chanos bao gồm các bước từ nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích sinh sản, ấp trứng đến ương nuôi cá con. Quy trình sản xuất giống được hoàn thiện nhằm nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng cá giống. Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ và kích thích sinh sản bằng hormone là những yếu tố quan trọng trong quy trình này.

2.1. Nuôi vỗ cá bố mẹ

Nuôi vỗ cá bố mẹ là bước đầu tiên trong quy trình sản xuất giống. Cá bố mẹ được nuôi trong môi trường nước lợ với chế độ dinh dưỡng đặc biệt để đảm bảo sức khỏe và khả năng sinh sản. Thời gian nuôi vỗ thường kéo dài từ 3 đến 6 tháng, tùy thuộc vào điều kiện môi trường và chế độ chăm sóc.

2.2. Kích thích sinh sản và ấp trứng

Kích thích sinh sản bằng hormone như HCGLHRHa được áp dụng để tăng tỷ lệ đẻ trứng. Trứng sau khi thụ tinh được ấp trong bể chuyên dụng với điều kiện nhiệt độ và độ mặn phù hợp. Tỷ lệ nở của trứng phụ thuộc vào chất lượng trứng và điều kiện ấp.

III. Kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cá Măng sữa

Kỹ thuật nuôi trồng Chanos chanos bao gồm các phương pháp nuôi trong ao đất, lồng bè và nuôi ghép với tôm, cua. Nuôi trồng thủy sản cá Măng sữa đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn và hàm lượng oxy hòa tan. Kỹ thuật nuôi hiệu quả giúp tăng năng suất và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh.

3.1. Nuôi trong ao đất

Nuôi cá Măng sữa trong ao đất là phương pháp phổ biến, đặc biệt ở các vùng ven biển. Ao nuôi cần được chuẩn bị kỹ lưỡng, bao gồm việc cải tạo đáy ao và kiểm soát chất lượng nước. Mật độ nuôi thích hợp và chế độ cho ăn hợp lý là yếu tố quyết định đến sự thành công của mô hình nuôi này.

3.2. Nuôi ghép với tôm và cua

Nuôi ghép cá Măng sữa với tôm và cua là phương pháp hiệu quả để tận dụng tối đa diện tích nuôi và cải thiện chất lượng nước. Mô hình này giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tăng thu nhập cho người nuôi. Tuy nhiên, cần lưu ý đến sự tương thích giữa các loài và quản lý dịch bệnh.

IV. Bảo tồn và phát triển giống cá Măng sữa

Bảo tồn giống cá Măng sữa là nhiệm vụ quan trọng nhằm duy trì nguồn gen quý hiếm và phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản. Các biện pháp bảo tồn bao gồm nghiên cứu sinh sản nhân tạo, xây dựng ngân hàng gen và quản lý khai thác hợp lý. Phát triển giống cá Măng sữa cần kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn.

4.1. Sinh sản nhân tạo

Sinh sản nhân tạo là phương pháp hiệu quả để bảo tồn và phát triển giống Chanos chanos. Quy trình này bao gồm thu thập cá bố mẹ, kích thích sinh sản và ương nuôi cá con. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sống của cá con có thể được cải thiện đáng kể nhờ các kỹ thuật tiên tiến.

4.2. Quản lý nguồn gen

Quản lý nguồn gen cá Măng sữa đòi hỏi sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu và cộng đồng địa phương. Xây dựng ngân hàng gen và thực hiện các chương trình bảo tồn in situ và ex situ là những biện pháp cần thiết để duy trì đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá măng sữa chanos chanos

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Vị trí phân loại Cá Măng sữa thuộc họ cá Măng biển Chanidae là một trong bốn họ thuộc Bộ cá Sữa Gonorynchiformes. Bộ này gồm 4 họ, 7 giống và 27 loài.

Trong 4 họ thuộc bộ cá Sữa, có 3 họ là họ Chanidae, họ Gonorynchidae, mỗi họ mới phát hiện được duy nhất 1 loài sống ở biển Ấn Độ - Thái Bình Dương, họ Phractolaemidae có 1 loài chỉ phân bố ở vùng nước ngọt Châu Phi nhiệt đới (Trong khi dự đoán họ Chanidae có thể có tới 19 loài và họ Gonorynchidae có thể có 3 loài, họ Phractolaemidae có 5 loài). Họ Kneriidae có 24 loài ở Châu Phi nhiệt đới và sông Nile (Nelson, 1984) [9]. Cá Măng sữa được các nhà khoa học thuộc Hội đồng Bảo tàng Anh đưa vào danh sách hóa thạch sống của thế giới, là loài duy nhất còn tồn tại cho đến hiện nay của cả họ cá Măng sữa Chanidae (Patterson Colin, 1984) [10]. Năm 1775, loài cá Măng sữa lần đầu tiên được mô tả bởi Petrus Forsskal với tên Mugil chanos; mẫu vật loại (da khô) từ Biển Đỏ hiện được đặt tại Bảo tàng Động vật học của Trường Đại học Copenhagen - Đan Mạch (Klausewitz & Nielsen, 1965) [11].

Giống Chanos được Lacepede mô tả ở cấp độ loài vào năm 1803 và đã sử dụng tên Chanos arabicus, Kluzinger là nhà phân loại đầu tiên sử dụng tên Chanos chanos vào năm 1871. Cuvier & Valenciennes mô tả cá Măng sữa dưới 10 tên khác nhau, trong khi 15 tác giả khác mô tả dưới 18 tên đồng vật khác (Herre & Mendoza 1929; Schuster 1960; Crosby et al., 1982) [12] [13] [14], những tên đồng vật khác nhau này là do sự khác biệt rõ ràng về địa lý. Tuy nhiên, việc công nhận tên khoa học của cá Măng sữa Chanos chanos được chấp nhận hiện nay là do Forsskal đặt tên (Garcia, 1988; Bagarinao, 1991) [15] [16]. Hệ thống bậc phân loại cá Măng sữa như sau: Ngành động vật có dây sống: Chordata Lớp cá vây tia: Actinopterygii Bộ Cá sữa: Gonorynchiformes Họ Cá măng biển: Chanidae Giống cá Măng: Chanos Lacepede, 1803 Loài cá Măng sữa: Chanos chanos (Forsskål, 1775) Hình ảnh cá Măng sữa nghiên cứu và mô tả theo Hình 1.

Cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskål, 1775) Tên tiếng Anh: Milkfish Tên đồng vật: Mugil chanos, Forsskal 1775; Mulgi salmoneus Forster in Bloch and Schneider 1801; Chanos arabicus Lacepède 1803; Lutodeira indica van Hasselt 1823; Cyprinus tolo Cuvier 1829; Cyprinus pala Cuvier 1829; Leucicus zeylonicus Bennett 1833; Chanos aldrovandi Risso in Cuvier and Valenciennes 1836; Chanos orientalis Valenciennes (ex Kuhl) in Cuvier and Valenciennes 1847; Chanos mento Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Chanos chloropterus Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Chanos nuchalis Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Chanos lubina Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Chanos cyprinella Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Butirius argenteus Jerdon 1849; Lutodeira (Chanos) mossambicus Peters 1852; Lutodeira (Chanos) elongata Peters 1859; Lutodeira (Chanos) gardineri Regan 1902. Eschmeyer et al. Lutodeira chanos,; Tên thường gọi: cá Măng sữa, cá Măng biển (Thái Thanh Dương, 2007) Tên địa phương: cá chua. Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh sản nhân tạo và nuôi cá Măng sữa trên Thế giới 1.

Một số đặc điểm sinh học cá Măng sữa 1. Đặc điểm hình thái Cá Măng sữa có thân hình thoi dài, dẹt hai bên vừa phải, không có rãnh dọc bụng. Cá có màu bạc ở bụng và hai bên, màu xanh ô liu hoặc xanh lam trên lưng. Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi nhạt hoặc hơi vàng với rìa sẫm màu.

Vây lưng đơn có 2 tia vây cứng và và 13-17 tia mềm. Vây hậu môn ngắn có 2 tia vây cứng và 6 8 - 10 tia mềm, gần với vây đuôi. Vây đuôi lớn và xẻ thuỳ sâu với các vạt vảy lớn ở gốc ở cá trưởng thành. Vây ngực thấp trên thân có vảy ở nách trong.

Vây bụng có vảy ở nách và 11 hoặc 12 tia vây. Vảy hình tròn, nhỏ và mịn, 75-91 vảy trên đường bên. Mô mỡ trong suốt bao phủ mắt. Miệng nhỏ và không có răng.

Hàm dưới có củ nhỏ ở đầu, khớp với rãnh ở hàm trên. Không có mảng xương hàm giữa các gốc của hàm dưới. Bốn lược mang hỗ trợ mặt dưới của nắp mang. Tia mang nhỏ dày và nhiều (Bagarinao, 1994; Fischer et al.

Đặc điểm hình thái cá Măng sữa được nghiên cứu theo quần thể cá Măng sữa ở vùng biển Ấn Độ (SriHari et al., 2019) [20] và ở vùng biển Đông Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Mỹ Dung và cs. Đặc điểm phân bố Cá Măng sữa phân bố ở ở Ấn Độ Dương và xuyên Thái Bình Dương, từ Nam Phi đến Hawaii, từ California đến Galapagos, phía bắc đến Nhật Bản, phía nam đến Úc (Briggs, 1961; Rosenblatt et al. Cá Măng sữa thường sống ở xung quanh các đảo và dọc theo thềm lục địa, ở độ sâu từ 1 đến 30 m. Chúng cũng thường xuyên vào vùng cửa sông và sông ngòi.

Đông Nam Á là trung tâm phân bố ngày nay của loài cá Măng sữa (R.Froese et al. Ngoài Philippines, Indonesia và Đài Loan, cá Măng sữa xuất hiện dọc theo bờ biển Thái Lan (Thiemmedh, 1955) [24], Việt Nam (Kuronuma & Yamashita, 1962) [25] và Miến Điện (Htin, 1969) [26]. Cá Măng sữa có nhiều ở Sri Lanka, Ấn Độ và xung quanh Andaman, Nicobar, Laccadive, Maldive và Chagos - Quần đảo ở Ấn Độ Dương (Bagarinao, 1991) [16]. Môi trường và tập tính sống Kết quả nghiên cứu ở Philippines cho thấy cá Măng sữa trưởng thành (dài toàn thân khoảng 50-150 cm) là loài cá sống ở biển khơi, nhanh nhẹn, bơi khỏe.

Vào mùa sinh sản, chúng thường hình thành những đàn lớn, di chuyển dọc bờ biển nơi có các bãi đá ngầm, rạn san hô (Bagarinao, 1991) [16]. Cá Măng sữa đẻ trứng ở biển khơi, thuộc loại trứng trôi nổi. Ở độ mặn từ 29,5 -34 ‰, thời gian trứng nở từ 20-35h tùy thuộc vào nhiệt độ nước (26-32 oC). Ấu trùng cá Măng sữa sống trôi nổi và di chuyển dần vào vùng biển gần bờ, phát triển thành cá giống ở cỡ khoảng 20 7 mm.

Cá Măng sữa giống được tìm thấy trong các môi trường sống đa dạng như đầm phá san hô, đầm phá rừng gập mặn, cửa sông, bãi đầm lầy, lạch thủy triều và vũng triều có nguồn thức ăn phong phú (Buri, 1980; Kumagai & Bagarinao, 1981; Dorairaj et al.,1984; Kumagai et al. Thức ăn và tập tính ăn a) Thức ăn của ấu trùng cá Măng sữa Kết quả nghiên cứu ở Philipines cho thấy ấu trùng cá bắt đầu ăn sau khi mở miệng (khoảng 54 h sau khi nở) với thức ăn là động vật phù du như với kích cỡ thức ăn tăng dần như luân trùng, copepod, artemia trong điều kiện ương nuôi nhân tạo. Khi đạt hai tuần tuổi chúng có thể sử dụng thức ăn viên tổng hợp. Trong điều kiện tự nhiên, ấu trùng cá ở vùng nước ven bờ ăn chủ yếu là copepod và tảo silic (Bagarinao, 1991) [16].

b) Thức ăn của cá giống Cá con cá Măng sữa chủ yếu ăn ở tầng đáy. Thức ăn của cá khác nhau tùy theo môi trường sống và kích thước cá. Cá con từ môi trường sống tự nhiên xung quanh Đảo Panay, Philipines và các nơi khác hầu hết thường ăn vi khuẩn lam, tảo silic và mùn bã hữu cơ, tảo lục và động vật không xương sống như động vật giáp xác nhỏ và giun. Thành phần thức ăn của cá Măng sữa giống trong ao tương tự trong các bãi ương tự nhiên (Bagarinao, 1991) [16].

Theo Lin (1968) [31] nhận thấy rằng cá ăn khoảng 65% tảo và 35% động vật vào ban ngày và 54% động vật và 46% tảo vào ban đêm, có thể là do sự thay đổi về sự sẵn có của các sinh vật theo chu kỳ ngày đêm. c) Thức ăn của cá trưởng thành Đối với cá trưởng thành, cả thực vật và động vật phiêu sinh và sinh vật đáy đều xuất hiện trong ruột của chúng. Các mẫu cá thu xung quanh đảo Panay đã được tìm thấy với số lượng lớn động vật phù du và ấu trùng và cá con họ cá trích trong ruột cá. Cá Măng sữa trưởng thành cũng như cá giống, là những đối tượng ăn mồi cơ hội với phổ thức ăn rộng.

Cá Măng sữa trưởng thành có thể được nuôi nhốt, sử dụng thức ăn viên thương mại hàm lượng protein 42%, cho ăn 1,5-2% trọng lượng cơ thể hai lần mỗi ngày (Marte & Lacanilao, 1986) [32]. Đặc điểm tăng trưởng Nghiên cứu tăng trưởng của cá Măng sữa giống trong tự nhiên tại đảo đảo Naburut Philipine cho biết cá có tốc độ tăng trưởng đạt 8,7; 7,6; 7,4 và 7,0 mm /tuần tương ứng với các các lô cá giống vào đầm phá lần lượt vào cuối tháng 3, giữa tháng 4, giữa tháng 5 và cuối tháng 5. Các tốc độ tăng trưởng này tương đương với cá giống nuôi trong ao và cá giống trong tự nhiên ở các địa phương khác (Kumagai et al. Ở nghiên cứu khác, Blake & Blake (1981) [33] sử dụng dấu hiệu trên vảy và xương nắp mang để xác định tuổi của cá Măng sữa giai đoạn cá con ở đầm phá ven biển.

Ở Mexico, cá Măng sữa có chiều dài tiêu chuẩn SL=75-355 mm, mối quan hệ giữa SL (mm) và chiều dài của vảy (Xs, mm) hoặc xương nắp mang (Xo, mm) tương ứng là: SL = 29,6 + 117,4 Xs và SL = 12,0 + 96,0 Xo (Castro-Aguirre, 1978; Warburton, 1979) [34][35]. Đối với tăng trưởng ở cá trưởng thành, Kumagai (1981, 1990) [30] [36] tìm thấy mối liên quan giữa vòng tăng trưởng ở đốt xương sống với tuổi của cá, từ đó suy ra tốc độ tăng trưởng. Cá cái tăng trưởng nhanh hơn so với cá đực. Trong độ tuổi từ 4 đến 6 tuổi, cá cái tăng khoảng 7 cm/ năm, cá đực tăng 5 cm/ năm.

Chưa có thông tin về tuổi thọ cá, nhưng Schuster (1960) [13] đã cho biết cá nuôi trong ao 12 tuổi có trọng lượng đạt 5-6 kg. Cá sữa trưởng thành được thu thập quanh đảo Panay, Philippines (n = 527) có chiều dài chạc (FL) 60-100 cm, (trung bình, 75 cm) hoặc chiều dài toàn thân (TL) 75-120 cm (trung bình, 95 cm) và 4-14 kg BW (trung bình, 7 kg), với các hệ số điều kiện (CF) là: 14-14 (CF = BW / FL x 103) (Bagarinao, 1991; Kumagai, 1985, 1990) [16][30][36]. Đặc điểm sinh sản a) Thành thục và sinh sản Cá Măng sữa có giới tính riêng biệt. Trứng cá thành thục theo từng giai đoạn trong buồng trứng (Tamaru, 1988) [37].

Tuổi và cỡ cá thành thục khác nhau ở những vùng địa lý khác nhau và có sự khác nhau giữa cá nuôi và cá tự nhiên. Ở đảo Panay, Philippines, cá nuôi trong lồng thành thục lần đầu tiên từ 3,5-5 tuổi ở cả hai giới tính, khối lượng từ 2-5 kg/con, chiều dài toàn thân từ 60-70 cm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và quy trình sản xuất giống cá măng sữa Chanos chanos là một tài liệu chuyên sâu về loài cá măng sữa, tập trung vào đặc điểm sinh học và quy trình sản xuất giống. Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về môi trường sống, đặc điểm sinh trưởng, và kỹ thuật nuôi trồng, giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức tối ưu hóa sản xuất giống cá măng sữa. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, và người làm trong lĩnh vực thủy sản, đặc biệt là những ai quan tâm đến việc phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn về chất lượng nước, yếu tố quan trọng trong nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình cũng là tài liệu hữu ích để hiểu thêm về môi trường nước, một yếu tố không thể thiếu trong nghiên cứu thủy sản. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng (PAHs) trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người mang đến góc nhìn về ô nhiễm môi trường, một vấn đề cần quan tâm trong bối cảnh phát triển bền vững.

Các tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố liên quan đến nghiên cứu thủy sản và môi trường.