Đặt vấn đề Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Theo báo cáo ngành thủy sản năm 2019, sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong suốt các năm qua với mức tăng bình quân khoảng 9%/năm. Với chủ trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt 12,7%/năm, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước. Theo thống kê của Tổng cục Thủy Sản năm 2019, diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt của Việt Nam khoảng 500 nghìn ha, sản lượng khoảng 2.613 nghìn tấn, chiếm 36,79% tổng sản lượng thủy sản, trong đó chủ yếu là một số đối tượng như cá tra, rô phi, chép và các loài cá truyền thống.
Trong các loài cá nuôi truyền thống, cá chép là loài có nguồn gốc ở châu Âu và châu Á, loài cá này đã được đưa vào các môi trường khác trên toàn thế giới. Cá có thể lớn tới độ dài tối đa khoảng 1,2 mét và cân nặng tối đa 37,3 kg cũng như tuổi thọ cao nhất được ghi lại là 47 năm. Những giống sống trong tự nhiên hoang dã có xu hướng nhỏ và nhẹ hơn khoảng từ 20 - 33% so với đối tượng nuôi. Vì vậy, để hiểu biết thêm về nuôi trồng thủy sản và khả năng thích nghi, sinh trưởng của cá chép tại Thái Nguyên, tôi xin tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cá chép giai đoạn từ cá bột lên cá giống tại trung tâm đào tạo nghiên cứu và phát triển thủy sản trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Nắm được quy trình, kĩ thuật ương giống chép từ giai đoạn cá bột lên thành cá giống. - Theo dõi tình hình sinh trưởng và phát triển cá chép trong quá trình ương. - Theo dõi các loại bệnh thường gặp mà cá chép mắc phải trong quá trình ương.
- Đưa ra những khuyến nghị để hoàn thiện quy trình ương cá chép từ giai đoạn cá bột lên cá giống, có thể áp dụng vào thực tiễn. Yêu cầu - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn cá chép đạt hiệu quả cao. - Xác định được tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn cá chép. Luan van 3 Phần 2.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Thái Nguyên là một tỉnh miền núi thuộc vùng Trung Du Miền Núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 353.
Thái Nguyên có 6 huyện, 2 thành phố và 1 thị xã: • Phía Bắc giáp với Bắc Kạn • Phía Tây giáp với Vĩnh Phúc và Tuyên Quang • Phía Đông giáp với Lạng Sơn • Phía Nam giáp với Thủ đô Hà Nội và tỉnh Bắc Giang. Với vị trí địa lý như vậy, Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng TDMNBB và là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng TDMNBB với vùng Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH). Vị trí này đã và đang tạo điều kiện cho Thái Nguyên trở thành trung tâm kinh tế vùng TDMNBB thuận lợi cho việc giao lưu, tiêu thụ nông sản hàng hóa. Địa hình tỉnh Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi dốc, đặc biệt là khu vực phía Bắc, có nhiều sông, suối nhỏ thuộc hệ thống sông Cầu và sông Công.
Khí hậu của tỉnh Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Theo số liệu của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Nhiệt độ trung bình chênh lệch giữa tháng nóng nhất (28,9oC - tháng 6) với tháng lạnh nhất (15,2oC - tháng 1) là 13,7oC. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.
Tổng tích ôn vượt 7.500oC, thời kỳ lạnh (nhiệt độ trung bình tháng dưới 18oC) chỉ trong 3 tháng. Luan van 4 Với lượng mưa khá lớn, trung bình 1.500 mm, tổng lượng nước mưa tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên dự tính lên tới 6,4 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều theo thời gian và không gian. Theo không gian lượng mưa tập trung nhiều ở TP.
Thái Nguyên, huyện Đại Từ, trong khi đó tại huyện Võ Nhai, Phú Lương lượng mưa tập trung ít hơn. Theo thời gian, lượng mưa tập trung khoảng 87% vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó riêng lượng mưa tháng 8 chiếm đến gần 30% tổng lượng mưa cả năm và vì vậy thường gây ra những trận lũ lụt lớn làm ảnh hưởng không nhỏ tới nuôi trồng thủy sản của tỉnh. Cơ sở vật chất của cơ sở thực tập Trung tâm thủy sản (TTTS) bắt đầu hoạt động từ tháng 6/2012 đến nay TTTS đã hoạt động được gần 8 năm. Bao gồm 6 thành viên.
Hoạt động TTTS bao gồm sản xuất giống, nuôi trồng, khai thác và hoạt động kinh doanh sản phẩm thủy sản. Hiện tại TTTS bao gồm 23 ao nuôi (2ha), 01 hồ chứa (1,4ha), một nhà điều hành, 1 nhà sinh sản và các trang thiết bị phục vụ khác. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở Đối tượng sản xuất chủ yếu của trung tâm thuỷ sản là sản xuất giống các loài cá nước ngọt. Các đối tượng chủ yếu như cá Rô phi, Trắm, Bỗng, Chép, Lăng Chấm, Anh Vũ … 2.
Cơ sở khoa học của chuyên đề 2. Đặc điểm sinh học của cá chép • Nguồn gốc và phân bố Tên chính thức của cá Chép: Cyprinus carpio (Linnaeus, 1758). Cá chép (tên khoa học là Cyprinus carpio, từ cá chép trong tiếng Hy Lạp nghĩa là mắn con) là một loài cá nước ngọt phổ biến rộng khắp có quan Luan van 5 hệ họ hàng xa với cá vàng thông thường và chúng có khả năng lai giống với nhau. Tên gọi của nó cũng được đặt cho một họ là họ Cá chép (Cyprinidae).
Cá Chép phân bố rộng khắp các châu lục trên thế giới trừ Nam Mỹ, Tây Bắc Mỹ, Madagasca, và Châu Úc. Cá Chép được nuôi lâu ở Trung Quốc khoảng 2000 năm và 600 năm ở Châu Âu (Mai Đình Yên và cs, 1979) [10]. Hiện nay cá Chép là một trong những loài cá nuôi chính trong các ao nuôi ở Châu Âu, Châu Á như: Liên Xô, Hungary, Đức, Pháp, Trung Quốc, Inđônêxia.và là đối tượng quan trọng trong cơ cấu đàn cá nuôi. Ở nước ta có cá chép phân bố trong tự nhiên thông qua các tỉnh trung bộ, ở Miền Nam không có Cá Chép địa phương mà nhập vào nuôi Cá Chép có nguồn gốc từ Bắc Bộ.
Cá chép sống được ở hầu hết các thuỷ vực nước ngọt như: ao, hồ, đầm, ruộng, sông, suối ở tầng giữa và tầng đáy, ở giới hạn nhiệt độ từ 0- 400C, nhiệt độ thích hợp là khoảng 20-27°C, hàm lượng Oxy cực tiểu cho phép 2mg/lít, pH = 4-9. Cá sống ở nước ngọt, đôi khi cũng thấy ở cả vùng nước lợ có nồng độ muối < 14 ‰ Nguyễn Duy Khoát, (2003) [3]. V1 là Cá Chép tổ hợp lai của 3 loài cá chép là cá chép Trắng Việt Nam, cá Chép vẩy Hungary và cá chép Vàng Inđonexia. Và được tạo ra lần đầu tiên ở Việt Nam do Viện thuỷ sản I.
Cá Chép phân bố rộng có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới gồm nhiều loài như Chép vảy, trần, kính. Ở nước ta phổ biến nhất là cá chép vảy từ năm 1972 nhập thêm một số loài chép khác vào lai tại Việt Nam, chép kính và chép trần nhập từ Hungari. • Phân loại và đặc điểm hình thái cá Chép Phân loại cá Chép: Tên khoa học: Cyprinus carpio Giới: Animalia Luan van 6 Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Cypriniformes Họ: Cyprinidae Chi (genus) Cyprinus Loài (species) C. carpio * Đặc điểm hình thái cá chép: Cá chép thuộc giống cá nước ngọt, sống chủ yếu ở tất cả các châu lục nhưng nhiều nhất là ở châu Á và châu Âu.
Cá chép sinh trưởng và phát triển trong môi trường sông, suối, ao hồ và thậm chí là đồng ruộng ngập nước. Cá chép có kích cỡ trung bình, cơ thể hình thoi, mình dây và dẹp bên. Đầu cá thuôn, cân đối. Mõm tù, miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình cung khá rộng, hàm dưới hơi dài hơn hàm trên, môi dưới phát triển hơn môi trên.
Có 2 đôi râu: râu mõm ngắn hơn đường kính mắt; râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt Mắt cá vừa phải nằm ở hai bên, thiên về phía trên của đầu, khoảng cách 2 mắt rộng và lồi. Lưng xanh đen, viền lưng cong, thuôn hơn ở viền bụng. Hai bên thân dưới đường bên vàng xám. Bụng trắng bạc.
Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen. Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam. Màng mang rộng, gắn liền với eo. Lược mang ngắn, thưa.
Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn. Vây hậu mô viền sau lõm, tia đơn cuối hóa xương rắn chắc, phía sau có răng cưa. Vây đuôi phân thùy sâu, 2 thùy hơi tầy và tương đối bằng nhau. Thân nhiều vảy, vảy tròn lớn; đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi.
Luan van 7 Chúng không có dạ dày thực thụ, nhiệm vụ tiêu hóa thức ăn do ruột đảm nhận. Cá chép sống thành bầy, thường tạo thành nhóm với khoảng từ 5 cá thể trở lên. Cá chép lớn nhanh. Tốc độ tăng trưởng của cá chép giảm dần theo chiều dài nhưng lại tăng dần theo trọng lượng cơ thể.
• Đặc điểm sinh sản Cá chép mắn đẻ, số lượng sinh sản cực kỳ lớn. Tới mùa sinh sản, cá chép di cư vào các bãi ven sông, vùng nhiều cỏ nước để đẻ. Mùa sinh sản của cá chép kéo dài từ mùa xuân đến mùa thu nhưng tập trung nhất là vào các tháng xuân – hè, khoảng tháng 3-6; và mùa thu, khoảng tháng 8-9. Chúng đẻ nhiều vào ban đêm, nhất là lúc nửa đêm đến lúc mặt trời mọc hoặc sau các cơn mưa rào, nước mát.
Một cá chép cái trưởng thành có thể đẻ khoảng 150. Trứng ở dạng dính, thường bám vào các thực vật thủy sinh. Trứng nở thành cá bột, số lượng này có thể giảm sút rất nhanh bởi sự săn bắt của các loài cá có kích thước lớn. Cá chép thành thục khi được 1 năm tuổi trở lên.