CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ CÁ CHÉP VÀ SẢN XUẤT GIỐNG CÁ NHÂN TẠO 1. Một số đặc điểm sinh thái của cá Chép 1. Phân loại Giới (regnum): Animalia Ngành (phylum): Chordata Lớp (class): Actinopterygii Siêu bộ (superordo): Ostariophysi Bộ (ordo): Cypriniformes Hình 1.
Phân bố Cá chép (Cyprinus Carpio (Linnacus)) được coi là loài cá nuôi ở ao hồ nước ngọt lâu đời nhất trên thế giới (khoảng 2. Theo Ginther (1868), cá Chép là loài sống tự nhiên ở vùng cận nhiệt đới, đặc biệt là Trung Quốc. Chúng có thể phân bố ở châu Âu, Á, Mỹ, Phi…Cá phân bố trong hầu hết các thủy vực nước ngọt và cả vùng nước lợ có độ mặn đến 12 %o. Tình hình phân bố của một số loài cá trên thế giới Vùng phân bố Loài cá Lepomis macrochirus, micropterus salmonoides, Vùng Bắc Mĩ và loài cá nheo Ictalurus.
Cá hồi salmotrutta, cá Tinca, cá Gardonus, Esox Vùng Tây Âu và loài cá Chép được nhập từ Đông Nam Á. Cá hồi Salmo, cá tầm Acipenser, cá Coregonus, cá Vùng Đông Âu và Liên Xô Perca, cá Chép và một số loài cá ăn thực vật như mè trắng, mè hoa, trắm cỏ nhập từ Đông Nam Á. Vùng Châu Phi Rô phi (Tilapia). Vung Trung Đông Cá Chép (Cyprinus carpio).
Vùng Đông Nam Á Cá Chép, mè trắng, mè hoa, trắm cỏ, trôi… Ấn Độ Cá trôi Ấn độ Catla catla, Labeorohita… Vùng nước lợ Mugil, Chanos. Vùng nước mặn Platessa, Caranx, Epinephilus, Thynnus, Seriola… 1. Hình thái Do quá trình chọn giống, cá Chép ở Việt Nam tồn tại nhiều dạng hình khác nhau như: Chép Bạc, Chép Kính, Chép Trần, Chép Đen, Chép Hồng, Chép Hoa, Chép Lưng Gù, Chép Cẩm… Ở nhiều nước trên thế giới còn phát hiện ra nhiều dạng hình cá Chép khác như: Chép Vây Ngắn, Chép Vây Nhỏ, Chép Không Râu, Chép Cola… 1. Đặc điểm sinh thái Cá chép thuộc loại cá sống tầng đáy cho nên ngưỡng oxy tương đối thấp.
Một số ngưỡng môi trường chịu đựng của cá chép Chỉ Tiêu Môi Trường Max Min Đơn Vị Tính OXY 2 0,2 – 0,3 Mg/lit o NHIỆT ĐỘ 37 20 - 27 C PH 5 9 1. Đặc điểm dinh dưỡng Thời gian Kích thước Dinh dưỡng Sau 3 Khối noãn hoàn tiêu hóa hết, cá sử dụng các loại thức ăn ngày bên ngoài: động vật phù du, luân trùng, ấu trùng của Daphnia, cám, bột… 9 – 10mm Cá sống ở tầng giữa và tầng đáy, thức ăn chủ yếu là ấu trùng, côn trùng và động vật phù du. 14 – 19 mm Sống ở tầng đáy, ăn sinh vật đáy và mùn bã hữu cơ, ít ăn động vật phù du. Trưởng thành Sinh vật đáy: giun, ốc, trai, mùn bã hữu cơ, hạt thực vật, mầm non thực vật, thức ăn công nghiệp.
Đặc điểm sinh sản Tuổi thành thục Kích thước thành thục Khối lượng 8 tháng 19 – 23cm 1,05 – 1,30 kg Cá đực thường có tỷ lệ “Depth” cao hơn cá cái khi cùng tuổi và khối lượng. Đến mùa sinh sản, bụng cá cái lớn và mềm, bụng cá đực cứng và nhỏ, khi vuốt nhẹ lỗ sinh dục có tinh dịch màu trắng chảy ra ngoài. Mùa vụ và tập tính sinh sản Trứng cá chép thuộc loại trứng dính, cá càng nhỏ đường kính trứng càng bé và ngược lại. Đường kính trứng biến thiên từ 1,2 ÷ 1,8mm.
Trong điều kiện tự nhiên, mùa vụ sinh sản tập trung vào mùa Xuân và mùa Thu. Nhưng trong điều kiện sinh sản nhân tạo, cá chép có thể sinh sản quanh năm (đặc biệt là ở miền Trung và miền Nam Việt Nam). 6 Ở miền Bắc, cá đẻ nhiều lần trong năm nhưng tập trung vào hai vụ chính là vụ Xuân (tháng 3 ÷ 4), khi nhiệt độ nước 180C trở lên, vụ Thu đẻ vào tháng 9 ÷10. Các tỉnh miền Nam, cá chép đẻ quanh năm nhưng tập trung vào mùa mưa.
Cá thành thục ngay trong vực nước nó sống. Với điều kiện tự nhiên, cá thường đẻ vào sáng sớm và có thể kéo dài đến 8÷9 giờ sáng. Nhiệt độ sinh sản thích hợp từ 20÷22OC, có nước mới kích thích hoặc thời tiết từ lạnh chuyển sang ấm, có mưa, có vật bám (giá thể) cho trứng. Sức sinh sản Sinh sản là một khâu của chu trình sống của cá, đảm bảo cho sự tái sản xuất của chủng quần và bảo vệ loài.
Số lượng trứng đếm được trong toàn bộ noãn sào cá cái trong sinh thái học được gọi là sức sinh sản tuyệt đối hay sức sinh sản cá thể. Còn số lượng trứng được tính trên một đơn vị trọng lượng cơ thể được gọi là sức sinh sản tương đối. Sức sinh sản là sự thích nghi đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài. Sức sinh sản của cá chép phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Tuổi cá.
Chế độ dinh dưỡng. Chế độ dinh dưỡng gây ra biến đổi rất lớn. Với cá Chép Việt, lượng trứng tăng nhanh từ tuổi thứ 3 đến tuổi thứ 5, sau đó tăng lên không đáng kể. Trung bình 1kg cá cái đẻ được 10 vạn trứng.
Sức sinh sản của cá chép Trọng lượng cá (Kg) Số lượng trứng 0,3 30.000 (Theo Nguyễn Duy Hoan, 2006) Cá Chép có lượng chứa trứng cao khi vùng nước có nguồn dinh dưỡng tốt và ngược lại dinh dưỡng không tốt, không những ít trứng mà thậm chí cá bố mẹ không thành thục. Khái niệm sản xuất giống cá nhân tạo Khi cá cái đã có trứng, cá đực có tinh, vào đầu mùa mưa, chúng thường cùng nhau lên thượng nguồn của các con sông, vào các dòng suối… Vào những ngày mưa, khi nước sông, suối chảy mạnh, cá cái đẻ trứng, cá đực thụ tinh trên suối hay thượng nguồn. Trứng sẽ theo nước về suối, nở ra cá bột và phát triển thành cá con. Tùy vào mỗi loại cá mà chúng có nhiều phương thức đẻ trứng và bảo vệ con của mình.
Tuy nhiên, ở ngoài tự nhiên, cá con hay trứng đều gặp rất nhiều yếu tố rủi ro, nên tỷ lệ tồn tại rất thấp. Ưu điểm của cá đẻ ngoài tự nhiên là con sinh ra khá khẻo mạnh, vì sự khắc khe của chọn lọc tự nhiên. Tuy nhiên nhược điểm của hiện tượng này là con người không kiểm soát được, việc thu hồi cá con với số lượng đủ lớn là rất khó khăn. Để khắc phục tình trạng trên con người đã tìm ra phương pháp đó là “sinh sản nhân tạo”, tức là cho cá đẻ dưới sự kiểm soát của con người.
Nguyên lý của phương pháp này là: Cá trưởng thành được nuôi trong chế độ nuôi đặc biệt (gọi là nuôi vỗ) để có trứng, sau đó trứng được tạo điều kiện để chín (thành thục), khi đã có cá bố mẹ với trứng đủ chín và cá bố tương tự, người ta tiêm một số hormone sinh dục để cá cái đẻ trứng, lấy tinh trùng (sẹ) của cá đực gieo tinh 8 trong điều kiện kiểm soát. Như vậy, trứng và các con có thể thu được với một số lượng lớn. Trong một số hoàn cảnh, người ta chọn cá bố mẹ, sau khi tiêm kích dục tố xong, người ta cho chúng đẻ trong các dụng cụ đặc biệt gọi là bể đẻ, chúng sẽ tự đẻ và tự thụ tinh, người ta thu trứng và ấp nở trong các dụng cụ chuyên dụng (gọi là bể ấp). Đó là sự cho đẻ bán nhân tạo.
GIỚI THIỆU TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁ CHÉP 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Cá Chép thông thường hay cá Chép châu Âu (Cyprinus carpio) là một loài cá nước ngọt phổ biến rộng khắp có quan hệ họ hàng xa với cá vàng thông thường và chúng có khả năng lai giống với nhau. Cá Chép có nguồn gốc ở châu Âu và châu Á, loài cá này đã được đưa vào các môi trường khác trên toàn thế giới. Nó có thể lớn tới độ dài tối đa khoảng 1,2 mét (4 ft) và cân nặng tối đa 37,3 kg (82,2 pao) và có khi lên đến 43 kg, cũng như tuổi thọ cao nhất được ghi lại là 47 năm.
Koi là giống cá Chép được nuôi làm cá cảnh có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng được thế giới phương Tây biết đến thông qua con đường Nhật Bản. Tại Australia có các chứng cứ mang tính giai thoại và các chứng cứ khoa học cho thấy việc đưa cá Chép vào đây là nguyên nhân gây ra nước đục vĩnh cửu và giảm sút thảm thực vật ngầm trong hệ thống sông Murray-Darling, với hậu quả nghiêm trọng cho hệ sinh thái của sông, chất lượng nước và các loài cá bản địa. Do điều này, nó được những người đánh cá trong những khu vực này gọi là 'pig' (lợn) của cá nước ngọt. Tuy nhiên, ở những nơi khác nó được những người câu cá đánh giá cao do kích thước và chất lượng thịt.
Loài cá này được dùng rộng khắp trên thế giới như một loại thực phẩm. Người ta hiện nay đánh bắt chúng cả trong tự nhiên lẫn trong môi trường nuôi thả. Tại Cộng hòa Czech, cá Chép là một món ăn truyền thống trong bữa ăn tối vào dịp lễ Nô en. Cá Chép được đưa vào Bắc Mỹ năm 1877.
Chuyến đầu tiên chở 345 cá Chép sống được thả xuống ao hồ ở công viên đồi Druid thuộc Baltimore, Maryland. 9 Sau này, lượng cá dư thừa được thả ở các hồ Babcock tại Công viên Đài tưởng niệm Washington, D. Đây là dự án của Rudolf Hessel, một người nuôi cá cho chính quyền Mỹ. Tình hình nghiên cứu đối tượng trong nước Cá Chép vốn đã được nuôi lâu đời tại các lưu vực nước ngọt của Việt Nam.
Cá chép ở ta phân bố không quá các tỉnh miền Trung. Tại Quảng Nam, cá Chép có các loại như: Chép Vẩy, Chép Kính, Chép Trần, Chép Đỏ, Chép Gù…Trong số đó Chép Vẩy được nuôi phổ biến nhất. Vùng Nam bộ không có cá Chép gốc địa phương mà là các nhập vào từ ngoài Bắc vào. Thoạt tiên cá được nuôi và thả một cách tự nhiên.
Và hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, loài cá Chép này cùng với các loài cá khác đã và đang tiến hành nuôi nhân tạo, cho ăn thức ăn tổng hợp, cho đẻ bằng phương pháp vuốt trứng… Trong các loài Chép hiện nay, các loài có tốc độ phát triển nhanh là dòng F1 được lai giữa Chép Việt và chép Hung, cá sau 1 tuổi đạt trọng lượng 1kg. Năm 1995 đã tạo ra được một loại hình các Chép ở thế hệ thứ 6 có nhiều phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện ở Việt Nam. Vừa qua Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (Bộ Thủy sản) đã chọn tạo thành công cá Chép giống V1 (cá chép lai 3 máu) là kết quả lai ghép 3 dòng (cá Chép trắng VN, cá Chép vẩy Hungari với cá chép vàng Indonesia).