CHƯƠNG 1 HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI THUỶ SẢN VIỆT NAM MH33-01 Giới thiệu: Giới thiệu về môi trường thủy sinh vật và hiện trạng nguồn lợi thủy sản của Việt Nam trong những năm gần đây. Mục tiêu: - Về kiến thức: Am hiểu cơ bản hiện trạng hiện trạng và tiềm năng nguồn lợi Thuỷ sản của Việt nam, Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng Tháp. - Về kỹ năng: Trình bày cơ bản được hiện trạng hiện trạng và tiềm năng nguồn lợi Thuỷ sản của Việt nam, Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng Tháp. - Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Thái độ chủ động, tích cực về nguồn lợi thủy sản Việt Nam.
Môi trường, tài nguyên thủy sinh vật 1.1 Tổng quan về địa lý tự nhiên a. Môi trường nước Trong môi trường nước được chia ra nhiều loại nước khác nhau: nước mặn, nước ngọt, nước lợ,. Ví dụ: - Cá rô phi sống trong môi trường nước ngọt, nước lợ hay cá thu sống trong môi trường nước mặn. - Đặc điểm tôm thẻ chân trắng sống thích hợp trong môi trường nước lợ, tôm càng xanh sống trong môi trường nước ngọt và nước lợ.
- San hô chỉ sống được ở biển (nước mặn) mà không thể sống ở môi trường nước ngọt được. Môi trường trong đất Môi trường đất bao gồm đất cát, đất sét, đất đá, sỏi,. tùy vào từng điều kiện môi trường mà các loài sinh vật sinh sống ở đó là khác nhau.2 Các hệ sinh thái tiêu biểu Bao gồm tất cả các yếu tố môi trưởng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự sống, quá trình sinh trưởng, phát triển của sinh vật. Các yếu tố sinh thái bao gồm nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa, con người,… các yếu tố này tác động và chi phối lẫn nhau, tác động lên cơ thể sinh vật vào cùng một thời điểm.
1 - Ánh sáng là nhân tố quan trọng, nó chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của các sinh vật trên trái đất. chúng ảnh hưởng đến hình thái và các hoạt động sinh lý của thực vật. Ánh sáng còn giúp động vật và con người định hướng trong không gian để săn mồi, chốn kẻ thù và di cư,. - Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phân bố của sinh vật, như vùng nhiệt đới có độ đa dạng sinh vật cao hơn so với các vùng hàn đới và ôn đới.
Đa số các loài sống trong nhiệt độ từ khoảng 0 – 50 độ C. - Độ ẩm cũng là một yếu tố quan trọng, giúp điều hòa thân nhiệt, tham gia quá trình bài tiết ở động vật và quang hợp ở thực vật.1: Mối quan hệ sinh thái trong tự nhiên Sự tác động của các yếu tố sinh học phụ thuộc vào: - Bản chất của nhiệt độ - Cường độ mạnh hay yếu - Liều lượng nhiều hay ít - Tác động liên tục, gián đoạn, dao động,. - Thời gian tác động dài hay ngắn 1.3 Phân vùng tài nguyên sinh vật Giai đoạn 2018-2020, hoạt động điều tra đánh giá nguồn lợi thuỷ sản và môi trường sống của loài thuỷ sản ở vùng nội địa đã được triển khai tại 09 thuỷ vực thuộc 07 vùng sinh thái nông nghiệp, bao gồm: hồ Hoà Bình, sông Hồng, sông Lam, sông Ba, sông Serepok, hồ Lăk, sông Đồng Nai, hồ Phước Hoà và vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long thông qua dự án “Điều tra nguồn lợi thuỷ sản vùng nội đồng giai đoạn 2018-2020” 2 Nguồn thuỷ sinh có vai trò rất quan ưọng trong đời sống của con người cũng như cho môi trường tự nhiên về giá ttị kinh tế, giá trị khoa học cũng như giá trị nội sinh Thuỷ sinh là những loài “sống ở dưới nước, mọc ở trong nước”. Nguồn thuỷ sinh là khái niệm khá rộng, nó bao gồm toàn bộ các loài động và thực vật sống ở trong nước.
Thuỷ sinh bao gồm động vật thuỷ sinh và thực vật thuỷ sinh. Môi trường sống của nguồn thuỷ sinh bao gồm vùng nước, mặt đất ngập nước và cả phần đất mà các loài thuỷ sản sinh sống. Xét dưới góc độ môi trường, tất cả các nguồn tài nguyên có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nguồn thuỷ sinh có vai ttò quan trọng đối vói các nguồn tài nguyên tự nhiên như đất, nước, đa dạng sinh học.
Nó vừa là nguồn thức ăn cho các loại động thực vật, lại vừa góp phần quan trọng trong sự cân bằng sinh thái. Nguồn lợi thủy sản có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đã được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Đặc biệt trong những năm gần đây, phát ttiển nguồn thuỷ sản đã nhanh chóng đạt được mức sản lượng tăng trưởng nhảy vọt. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu; góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội đất nước và an ninh ven biển.
Xuất khẩu thuỷ sản góp phần tăng thu ngân sách quốc gia rất lớn. Bảo vệ và phát triển nguồn thủy sinh cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo cuộc sổng, công ăn việc làm cho cư dân và cũng nhằm bảo vệ môi trường. Nuôi trồng thuỷ sàn cũng là biện pháp quan trọng để tăng nguồn cung cấp protein đáp ứng cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Nguồn thuỷ sinh là nguồn nguyên liệu quan trọng cho một số ngành sản xuất, cho các nghiên cứu khoa học, góp phần đa dạng nguồn gen, có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo cân bằng sinh thái.
Nguồn thuỷ sinh là tài nguyên tái tạo nhưng tất nhiên không phải là vô tận. Nguồn thuỷ sinh có thể bị suy thoái bởi rất nhiều các nguyên nhân khác nhau. Hiện trạng nguồn lợi thuỷ sản 2.1 Nguồn lợi thủy sản nước ngọt Bên cạnh đó, Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc với tổng chiều dài hơn 41.360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên; trong đó, có 109 sông chính và hàng nghìn hồ chứa tự nhiên và nhân tạo, đây là hệ thống thủy vực có mức độ đa dạng sinh học nguồn lợi thủy sản cao, đặc biệt là hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Cửu Long. Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 544 loài cá nước ngọt (243 loài cá ở các sông miền Bắc, 134 loài ở miền Trung và 255 loài ở miền Nam), 700 loài động vật không xương sống, trong 3 đó có nhiều loài nguy cấp, quý, hiếm có giá trị về kinh tế, khoa học.
Tiềm năng thủy sản tự nhiên ở các vùng nước nội địa của Việt Nam rất lớn để phát triển khai thác, nuôi trồng và duy trì sinh kế cho người dân. Giai đoạn 2012-2017, hoạt động nghiên cứu điều tra nguồn lợi thủy sản tại một số thủy vực vùng nội địa đã được thực hiện, như nghiên cứu “Điều tra, khảo sát thực trạng nguồn lợi thuỷ sản và đề xuất giải pháp bảo vệ phát triển nguồn lợi thuỷ sản trên vùng hồ Sông Đà sau 30 năm ngập nước” (Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự, 2013); điều tra, khảo sát khu hệ cá sông Đà thuộc địa phận Việt Nam (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, năm 2011 - 2012). Ngoài ra, cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản của một số tỉnh/thành phố đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện các điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản trên một số thủy vực tại địa phương như: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Nội, Gia Lai, Đắc Lắc, Đồng Nai, An Giang,. Kết quả của những hoạt động nêu trên đã hỗ trợ cho công tác quản lý nguồn lợi thuỷ sản tại mỗi khu vực, địa phương.
Tuy nhiên, các cuộc điều tra chỉ là thống kê xác định thành phần loài thuỷ sản, thiếu thông tin về trữ lượng nguồn lợi, hiện trạng quản lý và khai thác nguồn lợi thủy sản tại các thuỷ vực, khu vực được điều tra. Giai đoạn này chưa có được thông tin về nguồn lợi thuỷ sản vùng nội địa một cách đồng bộ, thống nhất để phục vụ công tác xây dựng, ban hành chính sách bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản trên toàn quốc.2 Nguồn lợi hải sản Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2, hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ (2.773 đảo ven bờ và hơn 200 đảo xa bờ), có 114 cửa sông, 12 đầm phá, 50 vũng/vịnh ven bờ, trong đó vùng nội thủy, lãnh hải chiếm 37% diện tích, có nhiều đảo, cụm đảo xen kẽ tạo nên tính đa dạng về cảnh quan tự nhiên, sinh thái và nguồn lợi thủy sản, đóng vai trò quan trọng cho hoạt động khai thác thủy sản, phát triển ngành kinh tế biển nói chung, kinh tế thủy sản nói riêng. Trong những năm qua, ngành Thủy sản đã phát triển tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Năm 2019, tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh năm 2010) đạt 6,25% so với năm 2018, tổng sản lượng đạt khoảng 8,15 triệu tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó sản lượng khai thác đạt 3,77 triệu tấn, tăng 4,5%, nuôi trồng đạt 4,38 triệu tấn, tăng 5,2%.
Kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 8,6 tỷ USD. Sự phát triển của ngành Thủy sản đã góp phần quan trọng vào quá trình xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho cộng đồng ngư dân, cải thiện an ninh lương thực, bảo vệ chủ quyền của đất nước. 4 Tuy nhiên, ngành Thủy sản đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có sự suy giảm nguồn lợi thủy sản trên các thủy vực nội địa, vùng biển và ven biển, nguyên nhân chủ yếu là do số lượng tàu cá khai thác thủy sản quá nhiều, đặc biệt tàu cá công suất nhỏ khai thác ven bờ với nghề khai thác thiếu thân thiện với nguồn lợi; khai thác thuỷ sản sử dụng xung điện, chất nổ, chất độc; khai thác sai vùng của tàu cá có chiều dài lớn hoạt động ở vùng biển ven bờ; kích thước mắt lưới của ngư cụ khai thác nhỏ hơn so với quy định (nghề đăng đáy, nghề lồng xếp…); ô nhiễm môi trường do phát triển của một số ngành kinh tế khác như công nghiệp, du lịch… Chương trình Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản với mục tiêu bảo tồn, bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản nhằm phục hồi nguồn lợi thủy sản, các loài thủy sản có giá trị kinh tế và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ; gắn với quản lý có hiệu quả các hoạt động khai thác thủy sản nhằm phát triển ngành khai thác thủy sản bền vững, đồng thời giữ gìn tính đa dạng sinh học của tài nguyên sinh vật biển Việt Nam. Về thành phần loài: Giai đoạn 2011-2015 đã xác định được 1.