MỞ ĐẦU Sinh vật đáy ở ven biển Việt Nam có nhiều nhóm giá trị kinh tế, trong đó hai nhóm Thân mềm và Giáp xác được ghi nhận có nhiều loài giá trị kinh tế cao. Thống kê gần đây ghi nhận 43 loài Chân bụng (Gastropoda) và 43 loài Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có giá trị kinh tế [1], [2], [3], [4] với sản lượng có thể đạt tới hàng chục nghín tấn/năm như Sò huyết (Anadara granosa), Sò lông (Anadara antiquata), Ngao dầu (Metrix meretrix), Nghêu (Meretrix lyrata), Điệp quạt (Chlamys nobilis), Hàu sông (Ostrea rivularis), Dắt (Aloidis laevis),.; hoặc từ vài trăm tới một vài nghín tấn/năm như Dòm nâu (Modiolus philippinarum), Sò lông (Anadara subcrenata), Sò vân (Arca naviculavis), Ngó đỏ (Cyclina sinensis), Điệp nguyệt (Amussium pleuronectes), Tría (Cyrenobatissa subsulcata), Ốc hương (Babylonia areolata), Ốc ruốc (Umbonium vestiarum),.; hoặc một số có sản lượng thấp, chỉ trên dưới 100 tấn/năm nhưng có giá trị kinh tế cao như Trai ngọc (Pinctada martensi), Phi (Sanguinolaria diphos), Bào ngư chìn lỗ (Haliotis diversicolor), Bào ngư bầu dục (Haliotis ovina), Bào ngư vành tai (Haliotis asinina), Bào ngư dài (Haliotis varia), Ốc đụn cái (Trochus niloticus),. Đối với Giáp xác có 140 loài Tôm có giá trị kinh tế, trong đó Tôm he có 65 loài, Tôm hùm 13 loài, Tôm vỗ 9 loài, Tôm bề bề 45 loài [6] với sản lượng trung bính/năm đạt 27.600 tấn/năm (1964 – 1984), năm cao nhất có thể đạt 43.900 tấn, năm thấp nhất đạt khoảng 24. Đối với Tôm vỗ, ước tình trữ lượng ở vùng biển Việt Nam khoảng 40.000 tấn, khả năng khai thác có thể tới 15.
Ở miền Trung, các thủy vực Đề Gi, Thị Nại, Nha Phu – Bính Cang và Thủy Triều đa dạng về nơi sống của sinh vật với nhiều HST như RNM, TCB, vùng triều đáy mềm, đáy cứng liên kết nhau, là nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản và ương giống của các loài thủy sản. Nhiều nhóm thủy sản trong những thủy vực này có giá trị kinh tế như Thân mềm (Phi, Sò huyết, Sò lông, Don, Dắt, Hàu, Ốc sắt, và Phểnh), Giáp xác (Ghẹ xanh, Cua, Tôm đất, Tôm bạc, Tôm sú, Tôm hùm), Cá (Cá bống, Cá día, Cá giò, Cá đối, Cá lá và Cá liệt, Cá chốt), Giá biển, Sá sùng và nguồn giống (Cua, Tôm, Hàu, Ngao dầu, Cá día và Cá mú, Cá măng) [5], [7], [8], [9]. Các thủy vực này cung cấp cho 2 thị trường khoảng 550 – 1.410 tấn thủy sản/năm [5], [10], [9] và mang lại nguồn thu chủ yếu cho cộng đồng dân cư của 19 xã (phường) sống quanh thủy vực. Mặc dù nghiên cứu và công bố về nguồn lợi thủy sản trong bốn thủy vực nửa kìn Đề Gi, Thị Nại, Nha Phu – Bính Cang và Thủy Triều cũng đã được tiến hành trong những thập niên gần đây, song nhiều vấn đề liên quan đến nguồn lợi SVĐ như đặc trưng thành phần, sản lượng, phân bố; mối quan hệ giữa nguồn lợi SVĐ với đặc điểm sinh thái của thủy vực; hiện trạng khai thác và biến động nguồn lợi SVĐ vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Ví vậy nghiên cứu “Nguồn lợi sinh vật đáy trong thủy vực nửa kín ở vùng biển ven bờ Bình Định và Khánh Hòa” là việc cần thiết nhằm đạt được những hiểu biết cơ bản về nguồn lợi SVĐ và góp phần cung cấp dữ liệu cho quy hoạch, phân vùng sử dụng, khai thác nguồn lợi thủy sản hợp lý. Mục tiêu của luận án - Mục tiêu chung: đạt được những hiểu biết cơ bản về nguồn lợi SVĐ (Thân mềm và Giáp xác) trong một số thủy vực nửa kìn ở vùng biển ven bờ Bính Định và Khánh Hòa và đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý và quản lý phù hợp với từng thủy vực. - Mục tiêu cụ thể: Xác định được các đặc trưng của nguồn lợi SVĐ (Thân mềm và Giáp xác). Đề xuất được các giải pháp khai thác hợp lý và quản lý phù hợp với từng thủy vực.
Nội dung của luận án - Đánh giá đặc trưng nguồn lợi SVĐ (Thân mềm và Giáp xác) của các thủy vực nửa kìn: Thành phần, sản lượng, phân bố nguồn lợi trong từng thủy vực; So sánh các đặc trưng của nguồn lợi giữa các thủy vực (thành phần, sản lượng, phân bố nguồn lợi, loài nguồn lợi chủ đạo). - Tím hiểu mối quan hệ sinh học và sinh thái của những nhóm, loài nguồn lợi chủ đạo với đặc điểm sinh thái của từng thủy vực. - Đánh giá hiện trạng khai thác nguồn lợi SVĐ (Thân mềm và Giáp xác) trong từng thủy vực và giữa các thủy vực nửa kìn (ngành nghề khai thác và sản lượng theo nghề khai thác). 3 - Đánh giá thực trạng quản lý và đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý và quản lý phù hợp với từng thủy vực dựa trên đặc trưng nguồn lợi và hiện trạng khái thác và quản lý.
Ý nghĩa của luận án - Ý nghĩa khoa học: Cung cấp dữ liệu cho nghiên cứu sâu hơn về từng loài SVĐ có giá trị kinh tế. Ngoài ra, kết quả luận án làm cơ sở cho nghiên cứu nguồn lợi thủy sản và bảo tồn trong các thủy vực nửa kìn khác ở vùng biển ven bờ Việt Nam. - Ý nghĩa thực tiễn: cung cấp cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, phân vùng và đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý và quản lý hiệu quả nguồn lợi SVĐ trong các thủy vực nửa kìn. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần duy trí và phát triển nguồn lợi thủy sản; giúp chình quyền địa phương nói riêng và các cơ quan quản lý các cấp liên quan nói chung hoạch định chình sách, thực thi quản lý tài nguyên và môi trường trong các thủy vực nửa kìn một cách có hiệu quả; làm cơ sở để triển khai các hoạt động phục hồi nguồn lợi SVĐ, HST; góp phần cung cấp dữ liệu cho việc quy hoạch và phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững trong các thủy vực nửa kìn.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI THỦY VỰC NỬA KÍN Theo định nghĩa của Pritchard [11], thủy vực nửa kìn (semi – enclosed bodywaters) là Vũng biển hoặc vũng cửa sông (vùng có thủy triều) có liên hệ trực tiếp với biển, chịu tác động mạnh mẽ của thủy triều, nước biển ở trong vịnh hòa lẫn với nước ngọt của các con sông chảy từ lục địa ra", bao gồm cửa sông, vịnh ven bờ, đầm lầy ngập triều, thủy vực nằm sau các đập chắn. Theo thống kê của Trần Đức Thạnh & cs [12], Trần Đức Thạnh & cs [13], vùng biển ven bờ Việt Nam có 16 vũng, vịnh (gồm Nha Phu – Bính Cang); 11 cửa sông điển hính (cửa sông liman, cửa sông hính phễu, cửa sông châu thổ); và 12 đầm phá gồm: Tam Giang – Cầu Hai, Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), Trường Giang, An Khê, Nước Mặn (Quãng Ngãi), Trà Ổ, Nước Ngọt, Thị Nại (Bính Định), Cù Mông, Ô Loan (Phú Yên), Thủy Triều (Khánh Hòa), đầm Nại (Ninh Thuận) thuộc loại thủy vực nửa kìn. Xét về mức độ đóng kìn tương đối, đa số vũng vịnh thuộc loại hở, cửa sông liman thuộc loại kìn, cửa sông hính phễu thuộc loại nửa kìn, Cửa sông châu thổ thuộc loại nửa kìn – hở, đầm phá thuộc loại rất kìn [12].
Trong đó, đầm phá chia thành 3 kiểu: kiểu đầm phá gần kìn gồm Tam Giang – Cầu Hai, Trường Giang, Thị Nại, Cù Mông, Thủy Triều, Nại; kiểu kìn từng phần gồm Lăng Cô, Đề Gi, Nước Mặn và Ô Loan; kiểu đóng kìn gồm An Khê và Trà Ổ. Theo định nghĩa của Pritchard [11] và thống kê của Trần Đức Thạnh & cs (2008, 2010), Đề Gi, Thị Nại (Bính Định), Nha Phu – Bính Cang và Thủy Triều (Khánh Hòa) thuộc loại thủy vực nửa kìn, trong đó có 3 thủy vực thuộc loại đầm phá là Đề Gi, Thị Nại và Thủy Triều [14 ; 15], còn Nha Phu là thủy vực nước nông, nhưng nằm tách biệt khỏi biển bằng dãi chắn là một dãy núi cao, nối với vịnh Bính Cang bằng hai cửa rộng (1000m và 2000m), đặc điểm này khác với định nghĩa về đầm phá của Phleger [14], Kjerfve [15] và theo Trần Đức Thạnh & cs [12] Nha Phu chỉ là vũng ven bờ điển hính, Bính Cang là vịnh. Ví vậy, trong nghiên cứu, có thể thống nhất tên gọi đầm Đề Gi, đầm Thị Nại, đầm Thủy Triều và thủy vực Nha Phu – Bính Cang là thủy vực nửa kìn. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỦY VỰC NỬA KÍN 1.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI Đa số các nghiên cứu về thủy vực nửa kìn trên thế giới đều tập trung vào kiểu đầm phá ven biển. Đầm phá được xem là một trong những vực cho năng suất lớn trên thế giới; là nơi cung cấp thực phẩm, nguồn sinh kế và mang lại nguồn thu cho nhiều người dân sống quanh thủy vực. Đầm phá là thủy vực được nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới, tuy nhiên những hiểu biết về nguồn lợi thủy sản trong đầm phá như loài chủ đạo, tính hính khai thác, quan hệ sinh thái và tác động của con người và biến đổi khì hậu đến loài chủ đạo còn hạn chế [16]. Động lực và tiến hóa đầm phá: Các công trính nghiên cứu của Kjerfve [15], Phleger [14] và Troussellier & cs [17] là tài liệu tổng quan khá đầy đủ về quá trính đầm phá như phương diện hính thái, cấu trúc, trao đổi nước, trầm tìch; năng suất sinh học; hoạt động kinh tế; các giải pháp kỹ thuật trong quản lý đầm phá.
Đầm phá là những thủy vực nước nông nằm tách biệt khỏi biển bằng một doi chắn và nối với biển thường kỳ hoặc gián đoạn bằng một hay nhiều cửa hẹp và thường có dạng song song với bờ. Đây là một dạng HST tồn tại ở vùng biển ven bờ của nhiều nước trên thế giới. Diện tìch các đầm phá giao động khá lớn từ 1km2 lên đến 10. Đầm phá là những HST biến động lớn và cho năng suất sinh học cao.
Chúng nằm ở vùng bờ đầy biến động do các quá trính tự nhiên như sóng gió, dòng chảy, trao đổi nước giữa sông và biển. Hơn nữa, đầm phá còn là nơi mà các hoạt động kinh tế như nông nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy, cảng biển. diễn ra nhộn nhịp [17]. Tuy nhiên, các công trính này không đề cập đến đặc điểm đa dạng loài hay tình chất các quần cư và đặc trưng loài có giá trị kinh tế trong các thủy vực.
Đặc trƣng nguồn lợi thủy sản trong thủy vực nửa kín: Một số kết quả nghiên cứu về đặc trưng nguồn lợi thủy sản trong đầm phá cho thấy, Cá là nhóm nguồn lợi chiếm ưu thế về thành phần loài trong đầm phá.