CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều kiện tự nhiên vàkinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Cần Giờ là một trong 5 huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, nằm về hướng ĐôngNam, cách trung tâm thành phố khoảng 50 km theo đường chim bay, có hơn 20 km bờ biển chạy dài theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, có các cửa sông lớn của các con sông Lòng Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thị Vải, Soài Rạp, Đồng Tranh.
Vị trí của huyện Cần Giờ ở từ 106o 46’12” đến 107o 00’50” Kinh độ Đông và từ 10o22’14” đến 10o 40’00” vĩ độ Bắc. Cần Giờ có tổng diện tích tự nhiên 70.421 hécta, chiếm khoảng 1/3 diện tích toàn thành phố, trong đó đất lâm nghiệp là 32.109 hécta, bằng 46,45% diện tích toàn huyện, đất sông rạch là 22.850 hécta, bằng 32% diện đất toàn huyện [59]. Đặc điểm địa hình Huyện Cần Giờ có hình lòng chảo ở khu vực trung tâm, nếu xét từng khu vực nhỏ thì địa hình cũng có nhiều thay đổi nhưng độ chênh lệch không lớn lắm, đa số có địa hình cao trung bình 0,0-1,5m, trừ núi Giống Chùa là điểm cao nhất huyện có độ cao 10,1m ở tiểu khu 14 [18]. Rừng ngập mặn Cần Giờ được hình thành do đất đai phù sa của sông Sài Gòn và sông Đồng Nai mang đến, lâu ngày các hạt phù sa lắng đọng tạo thành nền đất.
Chính nhờ nguồn nước ngọt và phù sa của hai con sông này chảy ra biển đã góp phần hình thành rừng sác [18]. Đất đai Huyện Cần Giờ phát triển trên một đầm mặn mới, do phù sa của hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai mang đến và lắng đọng tạo thành nền đất. Sự phát triển của một khu rừng ngập mặn như thế tùy thuộc vào lượng mưa nhiều và mật độ sông rạch dày đặc, đan xen nhau trong khu vực, cung cấp một lượng lớn và phong phú phù sa vào vùng cửa sông ven biển. Đất hình thành tại Cần Giờ được tạo ra bởi tổng hợp các quá trình lắng tụ trầm tích sét, quá trình phèn hóa và quá trình nhiễm mặn [18].
9 Ta có thể chia đất đai ở Cần Giờ thành 5 dạng: đất ngập triều 2 lần trong ngày, một lần trong ngày, vài lần trong tháng; ngập vào cuối năm, dạng đất cao rất ít ngập.Từ các thế đất khác nhau, nên độ ngập triều, độ mặn, phèn, tính chất lý-hóa cũng khác nhau,do đó việc phân bố các loại cây trồng cũng theo những quy luật sinh thái chặt chẽ.Đất phèn mặn ở Cần Giờ được chia thành hai loại: đất phèn mặn theo mùa và đất phèn mặn thường xuyên. + Đất phèn mặn theo mùa phân bố phía bắc huyện Cần Giờ. Thời gian bị mặn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6 hoặc tháng 7 năm sau.Đất thịt, giàu mùn, chứa nhiều xác hữu cơ dưới môi trường yếm khí, chất dinh dưỡng khá; phản ứng đất từ chua đến rất chua. + Đất mặn dưới rừng ngập mặn (hay còn gọi là đất phèn mặn thường xuyên) chiếm phần lớn diện tích huyện Cần Giờ, rộng 35.000ha, đất thịt trung bình, màu xám đen, nhiều bùn nhão lẫn xác hữu cơ bán phân giải, bị ngập triều thường ngày, nói chung còn ở dạng bùn lỏng chưa cố định, giàu chất dinh dưỡng, độ pH của tầng đất trên khoảng 5,8 – 6,5 [2].
Đặc điểm khí hậu, khí tượng Khí hậu Cần Giờ có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ tương đối cao và ổn định, trung bình khoảng 250C đến 290C, cao tuyệt đối là 38,20C, thấp tuyệt đối là 14,40C. Độ ẩm trung bình từ 73% đến 85%, độ bốc hơi từ 3,5 đến 6 mm/ngày, trung bình 5 mm/ngày, cao nhất 8 mm/ngày. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1000 – 1402 mm, trong mùa mưa lượng mưa tháng thấp nhất khoảng 100 mm, tháng nhiều nhất 240mm.
Mùa mưa hướng gió chính là Tây – Tây Nam, mùa khô hướng gió Bắc – Đông Bắc [59]. Thủy văn Sông rạch Cần Giờ có mạng lưới sông rạch chằng chịt, đan xen nhau. Nguồn nước ngọt từ sông đổ ra là nơi hợp lưu của sông Sài Gòn và Đồng Nai,đổ ra biển bằng hai tuyến chính là Lòng Tàu và Soài Rạp, bên cạnh đó còn có sông Thị Vải, Gò Gia và các phụ lưu của nó. Có sự hòa trộn đáng kể giữa nước mặn và nước ngọt tại cửa sông chính hình phễu là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái [18].
Chế độ thủy triều Hệ thống sông rạch huyện Cần Giờ nằm trong vùng có chế độ bán nhật triều không đều (hai lần nước lớn và hai lần nước ròng trong ngày).Biên độ triều khoảng 2,5m khi triều kém và 4,2m khi triều cường. Theo quan sát, hai đỉnh triều thường bằng nhau nhưng hai 10 chân triều thường lệch nhau. Theo âm lịch, vào các ngày 29, 30, 1, 2, 3 và các ngày 14, 15, 16, 17, 18, mỗi ngày có 2 con nước lớn ngập toàn bộ rừng ngập mặn Cần Giờ khi triều cường. Các ngày có thủy triều thấp nhất trong tháng là 6, 7, 8, 9 và ngày 23, 24, 25, 26 âm lịch [18].
Độ mặn Qua các số liệu đo độ mặn từ năm 1977 đến năm 2000, cho thấy độ mặn lớn nhất khi triều cường và nhỏ nhất khi triều kém. Diễn biến ngập mặn phụ thuộc vào sự kết hợp giữa thủy triều biển Đông và lưu lượng nước ở thượng nguồn sông Sài Gòn và sông Đồng Nai.Vào khoảng tháng 4, nước biển chiếm ưu thế trong mối tương tác sông – biển, nước mặn xâm nhập sâu hơn vào trong đất liền, độ mặn của nước trong rừng được nâng cao lên. Ngược lại, vào thời gian từ tháng 9 đến tháng 10, khi các sông giữ vai trò ưu thế trong lực tương tác sông – biển, lúc đó nước ngọt từ sông đẩy lùi nước mặn ra biển làm hạ bớt độ mặn của nước trong khu vực [18]. Theo Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999), cây rừng ngập mặn sinh trưởng và phát triển tốt nơi có nồng độ muối trong nước từ 10 – 25 ‰.
Mỗi loài cây của rừng ngập mặn có biên độ chịu mặn khác nhau, nếu trong điều kiện độ mặn thích hợp với một loài nào đó thì loài đó sẽ sinh trưởng và phát triển mạnh, nếu độ mặn quá cao sẽ làm cây sinh trưởng chậm lại và có khi chết. Vì thế, một khi có thay đổi về độ mặn nghĩa là có thay đổi về cấu trúc quần xã rừng ngập mặn[9]. Điều kiện kinh tế - xã hội 1. Dân số, và phân bố dân cư Huyện Cần Giờ có 6 xã và một thị trấn (thị trấn Cần Thạnh) với dân số hơn 68.000 người, mật độ khoảng 75 người/km2 (thấp nhất so với các quận, huyện khác của thành phố).
Số người trong độ tuổi lao động 34.860 người, trong đó lao động ngành nông nghiệp nhiều nhất, chiếm khoảng 41%; lao động ngành thủy sản chiếm 31% và ngành thương mại – dịch vụ chiếm khoảng 14% [60]. Đặc điểm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội • Về kinh tế: Kinh tế của huyện trong tháng 8 cũng như 8 tháng đầu năm 2013 còn nhiều khó khăn, tăng trưởng thấp, tuy nhiên vẫn đảm bảo tăng trưởng so với cùng kỳ. Tổng giá trị sản xuất 11 tháng 8/2013 ước đạt 356 tỷ đồng, bằng 100% so với cùng kỳ. Nâng tổng giá trị sản xuất 8 tháng ước đạt 2.792 tỷ đồng, tăng 2,8% so với cùng kỳ và đạt 51,8% kế hoạch.
Hầu hết các ngành lĩnh vực trong nền kinh tế đều có bước phát triển, góp phần đảm bảo tăng trưởng tổng giá trị sản xuất toàn huyện trong 8 tháng đầu năm gần 3%. Nếu không tính giá trị sản xuất xây dựng thì kinh tế của huyện đạt mức tăng trưởng 16,9%. Chỉ số phát triển ngành thương mại dịch vụ, sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp tăng trưởng ổn định với mức tăng từ 30,6% - 71,4% cao so với mức tăng cùng kỳ và mức tăng trưởng bình quân theo kế hoạch năm. Sản xuất thủy sản tăng trưởng 3,3% (giá cố định) nhưng tăng trưởng tổng giá trị tăng thêm gấp hơn 2 lần (so với mức tăng giá trị sản xuất tính theo giá cố định) thể hiện hiệu quả sản xuất được nâng lên, nhờ giá thành tiêu thụ sản phẩm sản xuất (thủy hải sản) tăng cao so với cùng kỳ [60].
• Về Giáo dục – Đào tạo: Đã hoàn tất công tác chuẩn bị tổng kết năm học 2012 - 2013, chuẩn bị tổ chức khai giảng năm học 2013 - 2014. Trong tháng, đã khánh thành 03 trường: Tiểu học Vàm sát, Tiểu học Bình Thạnh, Mẫu giáo Lý Nhơn và đón nhận bằng công nhận 02 trường đạt chuẩn quốc gia (mức độ 1): Trường Tiểu học An Nghĩa và Trường Tiểu học Long Thạnh. Có 02 xã đạt tiêu chí trường học theo chuẩn quốc gia về xây dựng nông thôn mới là xã Bình Khánh và xã Lý Nhơn. Bước vào năm học 2013 - 2014, toàn huyện đã huy động 12.797 học sinh các cấp học ra lớp.
Hiện các cấp học đã sắp xếp, ổn định lớp học và tổ chức giảng dạy cho học sinh theo chương trình trước khi tiến hành khai giảng[60]. • Về y tế - khám chữa bệnh: Do địa bàn huyện Cần Giờ rộng, dân cư không tập trung nên người dân khi mắc bệnh đến bệnh viện huyện hay bệnh viện thành phố đều xa.Chính vì thế, với sự quyết tâm cao của lãnh đạo huyện, sự nỗ lực của Trung tâm Y tế Dự phòng đã quan tâm đầu tư cho công tác khám chữa bệnh tại Trạm Y tế (TYT) là biện pháp để người dân được tiếp cận với các dịch vụ tiện lợi nhất. Tuy nhiên, việc tổ chức khám chữa bệnh tại các TYT cũng còn nhiều hạn chế nhưng với sự ân cần, gần gũi của bác sĩ và cán bộ y tế tại trạm đã thu hút được nhiều bệnh nhân đến khám chữa bệnh, bệnh nhân bày tỏ sự an tâm, tin tưởng khi được điều trị bệnh tại các TYT. Bác sĩ Nguyễn Đình Hiệp - Trưởng TYT Cần Thạnh cho biết: “Công tác khám chữa bệnh cho người dân tại TYT Cần Thạnh có nhiều chuyển biến, số lượng bệnh nhân đến khám ngày càng đông, trung bình mỗi ngày có trên 120 lượt người đến khám; trong đó, TYT 12 khám và điều trị kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền được bệnh nhân tin tưởng và đón nhận” [60].
Chăm lo đời sống xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được quan tâm đúng mức, giải quyết kịp thời các chính sách, chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nânglên, thực hiện quyết liệt công tác phòng chống dịch bệnh, những khó khăn phát sinh do ảnh hưởng của thiên tai được xử lý kịp thời, ổn định đời sống nhân dân.