chương 1) xác định: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Theo khoản 8 điều 3 luật BVMT Việt Nam năm 2014 “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởngxấu tới con người, sinh vật” [8]. Ô nhiễm nước là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép [4]. Theo khoản 5 điều 3 luật bảo vệ môi trường 2014: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường” [8].
Theo khoản 5 điều 3 luật bảo vệ môi trường 2014:“Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường” [8]. Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước nhưsông, hồ, biển, nước ngầm.bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất độc hại như chất có trong thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp chưa được xử lý,. tất cả có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông suối kênh rạch, ao, hồ, đầm, phá, biển các tầng chứa nước dưới đất, mưa, bang, tuyết và các dạng tích tụ nước khác.
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn 7 nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã". Ô nhiễn nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lí, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật cho phép gây ảnh hưởng đến con người và sinh vật [20]. Theo FAO (2008) thì nuôi trồng thủy sản là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn., bao gồm áp dụng các kỹ thuật và quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất; thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể. NTTS là bất kỳ phương tiện gì của con người nhằm cải thiện tăng trưởng của một thủy sinh vật nào đó trong một diện tích mặt nước nhất định.
NTTS là một hay nhiều sự tác động của con người nhằm can thiệp vào chu trình sống tự nhiên của một loài thủy sinh[13]. Các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước a) Tác nhân lý hóa - Màu sắc: Nước tự nhiên sạch thường trong suốt và không màu, cho phép mặt trời chiếu xuống tầng nước sâu. Khi nước chứa nhiều chất rắn lơ lửng, các loại tảo, các chất hữu, đặc biệt sự có mặt của các hệ keo thường làm cho nước có màu, nó trở nên kém thấu quang với ánh sáng mặt trời. Các sinh vật sống ở đáy hoặc độ sâu thường bị thiếu ánh sáng mặt trời.
Các chất rắn ở môi trường nước làm cho các sinh vật hoạt động trở nên khó khăn hơn, một số trường hợp có thể gây tử vong cho sinh vật. Chất lượng nước suy giảm làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của con người. - Mùi vị: Nước tự nhiên sạch không có mùi hoặc có mùi dễ chịu. Khi trong nước có các sản phẩm phân hủy chất hũy cơ, chất thải công nghiệp, các kim loại thì mùi vị trở nên khó chịu - Độ đục: Nước tự nhiên sạch thường không chứa các chất rắn lơ lửng nên trong suốt và không màu.
Do chứa các hạt sét và mùn, vi sinh vật, hạt bụi, 8 các hóa chất kết tủa thì nước trở nên đục. Nước đục ngăn cản quá trình chiếu sáng của ánh sáng mặt trời. các chất rắn ngăn cản các hoạt động bình thường của con người và sinh vật khác.Độ đục cao biểu thị nộng độ nhiễm bẩn trong nước cao.Ảnh hưởng đến quá trình lọc vì các lỗ hổng sẽ bị bịt kín. - Nhiệt độ: Nhiệt độ nước tự nhiên phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết của lưu vực hoặc môi trường khu vực.
Nước thải công nghiệp, đặc biệt là nước thải của nhà máy nhiệt điện, nhà máy điện hạt nhân thường có nhiệt độ cao hơn nước tự nhiên trong khu vực. Chất thải làm tăng nhiệt độ môi trường nước làm cho quá trình sinh, lý, hóa của môi trường nước bị thay đổi, dẫn tới một số loài sinh vật không chịu đựng được sẽ chết hoặc di chuyển đến nơi khác, một số còn lại phát triển mạnh mẽ. - Chất rắn:bao gồm có chất rắn lơ lửng và chất rắn hòa tan: là các hạt chất rắn vô cơ hoặc hữu cơ, có kich thước bé, rất khó lắng trong nước như khoáng sét, bụi than, bùn…Sự có mặt của chất rắn trong nước gây nên độ đục, màu sắc và các tính chất khác. - Độ cứng: Gây ra độ cứng của nước là trong nước có chứa các muối Ca và Mg vĩnh cửu - Độ đẫn điện: Độ dẫn điện của nước liên quan đến sự có mặt của các ion trong nước như:NaCl, KCl, - Độ pH: độ pH ảnh hưởng tới điều kiện sống bình thường của các sinh vật nước.
Cá thường không sống được trong nước khi có độ pH<4 hoặc pH>10. - Nồng độ oxi tự do trong nước: oxi tự do trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước. Hàm lượng oxi có trong nước thường là do sự hòa tan của khí quyển hoặc do sự quang hợp của tảo. Nồng độ oxi tự do trong nước nằm trong khoảng 8-10 ppm và dao động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân hủy các chất, sự quang hợp của tảo,…Khi nồng độ oxi tự do trong nước thấp se làm giảm sự hoạt động của các sinh vật trong nước nhiều khi 9 dân đến chết.
Do vậy, nồng độ oxi tự do trong nước là một chỉ số quan trọng đánh giá sự ô nhiễm môi trường nước[6]. - Nhu cầu oxi hóa(BOD): nhu cầu oxi sinh hóa là lượng oxi đã sử dụng trong quá trình oxi hóa các chất hữu cơ bởi các sinh vật có trong nước theo phản ứng: Chất hữu cơ + O2 CO2 + H2O + tế bào mới + sp trung gian BOD là một chỉ tiêu dùng để xác định mức độ nhiễm bẩn của nước. Trong môi trường nước khi các quá trình oxi hóa sinh xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng oxi hòa tan để oxi hóa các chất hữu cơ và chuyển hóa chúng thành các sản phẩm vô cơ. Nồng độ BOD trong các môi trường nước khác nhau Nồng độ BOD(ppm) Chất lƣợng 1-2 Rất tốt không có nhiều chất hữu cơ 3-5 Tương đối sạch 6-9 Hơi ô nhiễm 10+ Rất ô nhiễm (Nguồn: PGS.
Trương Quốc Phú – PGS. Vũ Ngọc Út, 2011) - Nhu cầu oxi hóa(COD): là lượng oxi cần thiết cho quá trình oxi hóa hóa học các hợp chất hữu cơ có trong mẫu thành CO2 và nước. b) Tác nhân hóa học - Kim loại nặng: Các kim loại như Hg, Cd, Pb, As, Cu, Zn, Mn,…khi có nồng độ lớn đều làm nước bị ô nhiễm. Kim loại nặng không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hóa và thường tích lũy lại trong cơ thể, vì vậy chúng là chất độc hại đối với sinh vật.
kim loại nặng có nhiều trong nguồn nước từ nhiều nguồn như: nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, giao thông, nông nghiệp, khi khoáng,…Một số nguyên tố như Hg, Cd, As rất độc 10 đối với sinh vật dù ở nộng độ rất nhỏ. Do vậy, hiện nay tiêu chuẩn chất lượng nước, nồng độ các kim loại nặng được quan tâm hàng đầu[6]. - Các nhóm anion NO3- , PO43- , SO42- : các nguyên tố N, P, S ở nồng độ thấp là các chất dinh dưỡng đối với tảo và các sinh vật dưới nước. Ngược lại khi ở nồng độ cao sẽ gây ra sự phú dưỡng hoặc các biến đổi sinh hóa trong cơ thể sinh vật và con người.
- Thuốc bảo vệ thực vật: thuốc BVTV là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp hóa học, được dùng để phòng và trừ sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản với các tên gọi khác nhau. Rất nhiều loại thuốc được sử dụng để diệt dịch bệnh trong ao nuôi. Các loại thuốc diệt dịch như: thuốc diệt côn trùng, diệt nấm, thuốc diệt ấu trùng dạng sợi…các loại thuốc diệt dịch này có độc tính dất cao có thể tích tụ trong ao và gây độc đối với các loài động vật thủy sinh và tôm cá sống trong ao. - Các hóa chất hòa tan khác: các chất nhóm xynua, phenon, các chất tẩy rửa.
Các công xưởng nhà máy sản xuất và sử dụng hóa chất đã thải vào môi trường các chất này. c) Tác nhân sinh học Sinh vật trong môi trường nước có nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh sinh vật có ích, có nhiều nóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật khác. Đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn và kí sinh trùng gây bệnh như bệnh tả, lị, thương hàn, sốt rét,,,Nguồn ô nhiễm sinh học trong môi trường nước chủ yếu là phân, rác, nước thải, xác chết sinh vật… Cá ngoài môi trường tự nhiên hoặc các loài động vật khác có thể the dòng nước xâm nhập vào ao nuôi cạnh tranh thức ăn với các vật nuôi trong ao hoặc thậm chí có thể là ăn thịt vật nuôi.
Để hạn chế sự xâm nhập này khi bơn nước vào ao cần chặn lưới. 11 Các loài vi khuẩn gây bệnh cũng có thể theo dòng nước hoặc bám vào các sinh vật khác xâm nhập vào ao nuôi gây bệnh cho cá tôm trong ao nuôi.vì vậy phải hạn chế việc lấy nước từ bên ngoài vào ao nuôi hoặc phải có biện pháp xử lý nước trước khi cho vào ao nuôi. Ô nhiễm do xác động thực vật:Các loại tôm, cá…khi chết đi xác của nó được vớt từ ao này sang ao kia làm thức ăn cho cá hoặc baba đây chính là nguyên nhân làm ô nhiễm nguồn nước trong ao hồ nuôi trồng thủy sản.