Nghiên cứu thành phần và đặc điểm sinh học của ong họ braconidae ký sinh trên sâu hại hành thuộc giống spodoptera tại hải dương và hưng yên năm 2022 khoán luận tốt nghiệp

Nghiên cứu thành phần và đặc điểm sinh học của ong Braconidae ký sinh trên sâu hại hành Spodoptera tại Hải Dương và Hưng Yên năm 2022.

Chuyên ngành

Côn trùng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

75
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và yêu cầu

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.2. Phân bố và phạm vi ký chủ sâu keo da láng Spodoptera exigua

2.3. Tình hình gây hại và thiệt hại do sâu keo da láng gây ra trên thế giới

2.4. Thành phần ong ký sinh họ Braconidae trên thế giới

2.5. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.6. Phân bố và phạm vi ký chủ sâu keo da láng Spodoptera exigua

2.7. Tình hình gây hại của sâu keo da láng hại hành tại Việt Nam

2.8. Thành phần ong ký sinh họ Braconidae tại Việt Nam

2.9. Đặc điểm hình thái và sinh học một số loài ong ký sinh quan trọng

3. PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Nghiên cứu về ong ký sinh sâu non hại hành lá

3.4.2. Xác định sức đẻ trứng của trưởng thành cái ong ký sinh họ Braconidae

3.5. Xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thành phần loài sinh vật có ích trên sâu keo da láng và sâu khoang hại hành tại Hải Dương và Hưng Yên năm 2022

4.2. Tỷ lệ ong ký sinh M. pallidipes trên sâu hại hành lá tại Hải Dương và Hưng Yên năm 2022

4.3. Đặc điểm hình thái của loài ong ký sinh M.

4.4. Đặc điểm sinh vật học của ong ký sinh M.

4.5. Thời gian phát triển các pha của ong ký sinh M.

4.6. Thời gian sống của trưởng thành ong ký sinh M.

4.7. Thời gian vũ hoá trong ngày của trưởng thành ong ký sinh M.

4.8. Sự lựa chọn tuổi sâu non hại hành lá để ký sinh của trưởng thành cái loài ong M. pallidipes trong điều kiện phòng thí nghiệm

4.9. Đặc điểm sinh thái học của ong ký sinh M.

4.10. Ảnh hưởng của tuổi ký chủ đến tỷ lệ ong ký sinh thu thập trên sâu hại hành lá trên đồng ruộng tại Hải Dương và Hưng Yên năm 2022

4.11. Ảnh hưởng của yếu tố thức ăn thêm đến tuổi thọ trưởng thành ong ký sinh M.

4.12. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian phát triển của ong ký sinh M.

4.13. Ảnh hưởng thức ăn thêm đến khả năng sinh sản của trưởng thành cái ong ký sinh M.

4.14. Tỷ lệ ký sinh của ong ở các mức độ số lượng ký chủ trên sâu hại hành lá

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC XỬ LÝ THỐNG KÊ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ong Braconidae và sâu hại hành Spodoptera

Ong Braconidae là một họ côn trùng quan trọng trong việc kiểm soát sinh học sâu hại. Chúng ký sinh trên nhiều loài sâu, đặc biệt là sâu thuộc giống Spodoptera. Tại Việt Nam, sâu keo da láng (Spodoptera exigua) gây hại nghiêm trọng cho cây hành, làm giảm năng suất đáng kể. Nghiên cứu này nhằm xác định thành phần và đặc điểm sinh học của ong ký sinh Braconidae trên sâu hại hành tại Hải Dương và Hưng Yên năm 2022. Việc hiểu rõ về đặc điểm sinh học của ong ký sinh sẽ giúp phát triển các biện pháp kiểm soát sâu hại hiệu quả hơn.

1.1. Tình hình sâu hại hành tại Hải Dương và Hưng Yên

Sâu keo da láng đã trở thành một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với cây hành tại Hải Dương và Hưng Yên. Mật độ sâu hại có thể lên đến 30% năng suất cây trồng. Nông dân tại các huyện như Kinh Môn và Khoái Châu đang phải đối mặt với thiệt hại lớn do sâu hại này. Việc nghiên cứu các loài ong ký sinh như M. pallidipes có thể giúp giảm thiểu thiệt hại do sâu hại gây ra.

II. Thành phần sinh học của ong Braconidae

Nghiên cứu đã xác định được 4 loài sinh vật có ích trên sâu keo da láng và 3 loài trên sâu khoang. Ong ký sinh M. pallidipes là loài phổ biến nhất, với tỷ lệ ký sinh cao nhất tại Hải Dương là 11,02% và tại Hưng Yên là 19,74%. Thời gian phát triển của ong non M. pallidipes trung bình là 9,25 ngày, cho thấy khả năng sinh sản và phát triển nhanh chóng của loài này. Điều này cho thấy tiềm năng của ong ký sinh trong việc kiểm soát sâu hại.

2.1. Đặc điểm sinh học của ong ký sinh M. pallidipes

Ong trưởng thành cái M. pallidipes có thời gian sống trung bình 3,55 ngày khi tiếp xúc với vật chủ và 8,58 ngày khi không tiếp xúc. Thời gian sống dài nhất đạt được khi ăn mật ong nguyên chất, lên đến 11,13 ngày. Ong trưởng thành thường ký sinh trên sâu non tuổi 2 và 3, với tỷ lệ ký sinh từ 45-65%. Điều này cho thấy sự lựa chọn ký sinh của ong phụ thuộc vào độ tuổi của sâu hại, từ đó có thể phát triển các biện pháp bảo vệ cây trồng hiệu quả hơn.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về thành phần và đặc điểm sinh học của ong Braconidae mà còn mở ra hướng đi mới trong việc kiểm soát sâu hại. Việc áp dụng các biện pháp sinh học như nhân nuôi ong ký sinh có thể giúp nông dân giảm thiểu thiệt hại do sâu hại gây ra. Điều này phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và sản xuất thực phẩm an toàn.

3.1. Đề xuất biện pháp bảo vệ thực vật

Dựa trên kết quả nghiên cứu, việc khuyến khích nông dân sử dụng ong ký sinh như M. pallidipes để kiểm soát sâu hại là rất cần thiết. Các biện pháp như tạo môi trường sống thuận lợi cho ong ký sinh, kết hợp với các phương pháp canh tác hữu cơ sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ cây trồng. Điều này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường.

12/02/2025
Nghiên cứu thành phần và đặc điểm sinh học của ong họ braconidae ký sinh trên sâu hại hành thuộc giống spodoptera tại hải dương và hưng yên năm 2022 khoán luận tốt nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cây hành ăn lá, hành củ (họ hành tỏi Liliaceae) là một trong những loại rau gia vị không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày, được trồng từ lâu đời ở Việt Nam. Vụ đông xuân 2021, Hải Dương đã mở rộng diện tích trồng cây vụ đông từ 10-20% so với vụ trước, ưu tiên phát triển cây chủ lực có giá trị kinh tế cao trong số đó có hành, tỏi với diện tích khá lớn trong cơ cấu cây trồng vụ đông ở Hải Dương với 4. Trong đó, diện tích trồng hành ở huyện Kinh Môn chiếm 3.000 ha, năng suất trung bình đạt 15 tấn/ha. Khoảng 5 năm trở lại đây, hành được coi là cây mũi nhọn trong vụ đông của huyện Kinh Môn, luôn chiếm từ 75-80% diện tích cây vụ đông.

Sản phẩm hành hoa Hải Dương là mặt hàng nguyên liệu gia vị chính cung cấp cho các nhà máy chế biến mỳ tôm và thực phẩm trong cả nước. Họ Ong ký sinh Braconidae bao gồm cả loài ngoại ký sinh và nội ký sinh. Các loài ong ngoại ký sinh thường đẻ trứng lên cơ thể vật chủ, quá trình phát triển của trứng và ong non xảy ra bên ngoài cơ thể của vật chủ, còn các loài ong nội ký sinh lại đẻ trứng vào bên trong cơ thể của vật chủ, giai đoạn trứng và ong non phát triển bên trong cơ thể của vật chủ. Trong cả hai trường hợp (nội ký sinh và ngoại ký sinh), sau khi bị nhiễm ong ký sinh, vật chủ vẫn phát triển bình thường cho đến khi ong non các loài ký sinh hoàn thành sự phát triển của chúng bên trong hoặc bên ngoài cơ thể vật chủ, sau đó ong non đẫy sức làm kén bên trong hoặc bên ngoài cạnh xác của vật chủ.

Theo Khuất Đăng Long ( 2011), vật chủ phổ biến của các loài ong ký sinh thuộc họ Braconidae thường là sâu non của hầu hết các loài côn trùng khác, nhưng thường gặp nhiều nhất ở các loài côn trùng thuộc bộ cánh Vảy (Lepidoptera), cánh Cứng (Coleoptera) và Hai cánh (Diptera). Không giống với các loài ong ký sinh khác, ong ký sinh thuộc họ Braconidae không ký sinh các loài chân đốt khác không thuộc lớp côn trùng. 1 Hiện nay, tại các vùng sản xuất hành trên cả nước, sâu keo da láng phát sinh và gây hại nặng. Sâu keo da láng xuất hiện quanh năm với mật độ từ cao đến rất cao, gây hại nặng cho cây hành hoa và có thể làm giảm trên 30% năng suất hành hoa tại vùng chuyên canh như ở Hải Dương, Hưng Yên.

Người trồng hành hoa ở các huyện Kinh Môn, Nam Sách, Kim Thành (Hải Dương), huyện Khoái Châu (Hưng Yên) phải đối mặt với sâu keo da láng. Từ tình hình gây hại của sâu keo da láng hại hành tại một số vùng trồng hành chuyên canh trên, được sự phân công của Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần và đặc điểm sinh học của ong họ Braconidae ký sinh trên sâu hại hành thuộc giống Spodoptera tại Hải Dương và Hưng Yên năm 2022” 1. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Điều tra thành phần sinh vật có ích của sâu keo da láng hại hành, đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài ong ký sinh sâu keo da láng để từ đó góp phần đề xuất biện pháp bảo vệ, lợi dụng cũng như nhân nuôi các loài có ích để đáp ứng nhu cầu trong sản xuất rau màu an toàn hiện nay sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm an toàn sinh học và thân thiện với môi trường rất phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững.

Yêu cầu - Xác định thành phần và đặc điểm sinh học của ong họ Braconidae ký sinh trên sâu hại hành thuộc giống Spodoptera. - Xác đinh được vai trò của loài có triển vọng hạn chế sâu keo da láng. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2.

Phân bố và phạm vi ký chủ sâu keo da láng Spodoptera exigua - Phân bố: Loài sâu keo da láng Spodopter exigua có nguồn gốc ở Nam châu Mỹ. Năm 1972, sâu keo da láng đã được Commonwealth Agricultural Bureaux (1972) ghi nhận có mặt ở 67 quốc gia trên thế giới. Đến năm 1993, loài sâu hại này phân bố rộng khắp các châu lục trên thế giới (D Waterhouse, 1993). Loài dịch hại này gây hại cây trồng nông nghiệp tại nhiều quốc gia vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và đã xuất hiện ở hầu hết các châu lục như châu Phi, châu Á, châu Úc, châu Mỹ, phía nam châu Âu, đặc biệt là ở châu Mỹ và châu Á (OE Liburd & cs.

- Phạm vi ký chủ: Sâu keo da láng Spodoptera exigua (Hübner) là loài côn trùng ăn thực vật có tính đa thực và gây hại trên 90 loài cây thuộc 18 họ thực vật khác nhau. Sâu keo da láng làm giảm đáng kể về năng suất của nhiều cây trồng như dưa hấu, lạc, đậu tương, cà chua, hành, đậu cô ve,.(Samira Farahani & cs. Tình hình gây hại và thiệt hại do sâu keo da láng gây ra trên thế giới Vào những năm 1980 và 1990, sâu keo da láng đã trở thành loài sâu hai nghiêm trọng thứ hai trên cây bông trồng ở Alibama, Georgia, Louisiana, Mississippi và Texas của Mỹ ((TAMM Cuijpers & cs., 1994), Douce & McPherson, 1991; Huffman, 1996; Layton, 1994; Summy & cs. Loài sâu hai này đã bùng phát thành địch, tàn pha nặng trên cây bông ở Texas vào năm 1995 trên diện tích hơn 1.000 ba, trong đó khoảng 480 000 ha được áp dụng các biện pháp dập dịch với chi phí trên 31 triệu USD (Huffin, 1996).000 hà diện tích bông trồng ở Mỹ đã bị sâu keo da láng gây hai nặng và làm thiệt hại khoảng 19,2 triệu USD (William, 1999).

3 Tại California, sâu keo da láng S, exigua đã gây thiệt tại kinh tế đáng kể trên khoảng 200 ha cây ăn quả có múi giai đoạn cây con và cây gốc ghép ở vườn ươm trong mùa hè, mùa thu của các năm 1957, 1958 và 1959 (Atkins, 1960). Ở Malaysia, sâu keo da láng gây hại nhiều trên cánh đồng trồng rau cải bắp, đậu cô ve, cải bó xôi, rau cần tây và cánh đồng trồng hoa cẩm chướng với các giống hoa màu hồng, tím, và đỏ. Trưởng thành sâu keo da láng được tìm thấy quanh năm ở cao nguyên Cameron, Pahang, Malaysia (Azidah, 2008). Thành phần ong ký sinh họ Braconidae trên thế giới Các loài ong họ Braconidae được chia làm hai nhóm lớn Cyclostomes và Noncyclostomes căn cứ vào đặc điểm hình thái cấu tạo miệng và phân tích mối quan hệ phát sinh loài sử dụng các trình tự gen di truyền.

Nhóm Cyclostomes bao gồm 5 phân họ rõ rệt có số lượng loài rất phong phú (Alysiinae, Braconinae, Doryctinae, Opiinae và Rogadinae) và một số giống có kích thước cơ thể nhỏ thường gặp thuộc khoảng 15 phân họ khác nhau. Nhiều phân họ và giống trong số này rất khó xác định về mặt hình thái mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây (Quicke & cs. Nhóm ong ký sinh Noncyclostomes bao gồm các phức hợp Microgastroid, Sigalphoid, Euphoroid, Helconoid và trong phức hợp Helconoid có phức hợp phụ Macrocentroid. Hiện nay, phức hợp Microgastroid được nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới bởi lợi ích lớn của chúng như tác nhân kiểm soát sinh học và mô hình nhóm để tìm hiểu sự tiến hoá của Polydnavirus.

Căn cứ vào kết quả phân tích phân tử, phức hợp Microgastroid có 7 phân họ là Microgastrinae, Cardiochilinae, Cheloninae, Adeliinae, Khoikhoiinae, Mendesellinae và Miracinae. Phức hợp Sigalphoid gồm hai phân họ Sigalphinae và Agathidinae (Belshaw & Quicke (2002). Phức hợp Euphoroid gồm 5 phân họ Cenocoeliinae, Ecnomiinae, Neoneurinae, Euphorinae và Meteorinae. Phức hợp Helconoid gồm 10 phân họ là Acampsohelconinae, Blacinae, Helconinae, Amicrocentrinae, Charmontinae, Homolobinae, Macrocentrinae, Microtypinae, Orgilinae và Xiphozelinae (trích theo Quicke & cs.

4 Sự đa đạng loài ong của họ Braconidae được ghi nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Mexico, 584 loài ong thuộc họ Braconidae đã được mô tả hoặc báo cáo năm 2012 (Yu & cs.,2012), trong đó có khoảng 60 loài đã được mô tả trước đây bởi Wharton & Mercado (2000). Năm 2014, hai loài ong braconid mới được thu thập là Mirax avena và Choreborogas odontofemoralis. Loài ong Mirax avena là loài đầu tiên trong giống này được mô tả cho Mexico.

Loài Choreborogas odontofemoralis là loài thứ hai trong giống được mô tả. Các loài mới được so sánh với các loài cùng giống tương ứng và khóa định loại được cung cấp để xác định chính xác loài (Cauich-Kumul & cs. Gutiérrez-Arellano & cs., (2015) đã thu thập được tổng số 961 mẫu ong ký sinh và đã thu được 883 trình tự COI từ các mẫu ong. Các trình tự DNA thu được tương ứng với gen mã vạch của 289 loài thuộc 30 giống đã được xác định.

Một số giống có số lượng loài lớn là Heterospilus Haliday (170 loài), giống Ecphylus Förster (19 loài), giống Allorhogas Gahan (15 loài) và giống Callihormius Ashmead (14 loài). Kết quả nghiên cứu làm tăng sự đa dạng của các phân họ ở các vùng nghiên cứu lên 32 giống và 290 loài, trong đó 20 loài mới và 2 giống mới được mô tả chi tiết. Theo Rao &cs., (1993), sâu khoang giống Spodoptera bị trên 100 loài kẻ thù tự nhiên (bắt mồi ăn thịt, động vật ký sinh và vi sinh vật ký sinh) trên nhiều vùng của thế giới. sâu khoang trên đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận trong những năm 1996-1998 xuất hiện 6 loài côn trùng ký sinh, 4 loài ong và 2 loài ruồi., (1994), ở vùng phía bắc Thái Lan, sâu non sâu khoang bị một loài ong ký sinh pha sâu non và 2 loài ong ký sinh nhộng, cả 3 loài đều thuộc họ Braconidae.

Như vậy, chứng tỏ vùng Gia Lâm, Hà Nội, sự đa dạng của cánh màng ký sinh sâu khoang tương đối phong phú. Tại Venezuela, bảy loài ong ký sinh mới thuộc giống Notiospathius Matthews & Marsh được mô tả lần đầu tiên trong năm 2012 gồm N. Các loài ong ký sinh mới được phân loại và kiểm tra bằng phương pháp 5 Generalized Mixed Yule Coalescent (GMYC) sử dụng 441 trình tự DNA mã vạch của các mẫu thu được thuộc giống Notiospathius và trình tự của các giống thu thập tại các quốc gia dọc theo vùng Neotropics (López-Estrada & cs. Tại Australia, phân họ Microgastrinae gồm rất nhiều loài ong ký sinh trên sâu non bộ cánh vẩy đã được báo cáo.

Giống Dolichogenidea Vierek chỉ có ở Australia. Năm 2018, các nhà nghiên cứu đã mô tả thêm 3 loài ong ký sinh mới thêm vào cho 6 loài ong cùng giống đã được báo cáo trước đó. Ba loài ong ký sinh mới được phân biệt với các loài khác thuộc cùng giống bằng kích thước ống đẻ trứng rất dài so với hình dáng bình thường của giống. Ba loài ong ký sinh mới được là D.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thành phần và đặc điểm sinh học của ong Braconidae ký sinh sâu hại hành Spodoptera tại Hải Dương và Hưng Yên 2022 là một tài liệu chuyên sâu về việc phân tích thành phần loài và đặc điểm sinh học của ong Braconidae, một loài ký sinh có vai trò quan trọng trong kiểm soát sâu hại hành Spodoptera. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm sinh thái của ong Braconidae mà còn đề xuất các giải pháp ứng dụng chúng trong quản lý dịch hại nông nghiệp, giúp giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và hướng tới nền nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp bền vững, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk. Nếu quan tâm đến các nghiên cứu về quản lý dịch bệnh trong nông nghiệp, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật tại kho thuốc hòn trơ xã diễn yên huyện diễn châu tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp xử lý là một tài liệu hữu ích. Bên cạnh đó, để hiểu rõ hơn về các biện pháp kỹ thuật trong canh tác, Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk cũng là một lựa chọn đáng xem.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp nông nghiệp bền vững và hiệu quả.