Đặt vấn đề Cây hành ăn lá, hành củ (họ hành tỏi Liliaceae) là một trong những loại rau gia vị không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày, được trồng từ lâu đời ở Việt Nam. Vụ đông xuân 2021, Hải Dương đã mở rộng diện tích trồng cây vụ đông từ 10-20% so với vụ trước, ưu tiên phát triển cây chủ lực có giá trị kinh tế cao trong số đó có hành, tỏi với diện tích khá lớn trong cơ cấu cây trồng vụ đông ở Hải Dương với 4. Trong đó, diện tích trồng hành ở huyện Kinh Môn chiếm 3.000 ha, năng suất trung bình đạt 15 tấn/ha. Khoảng 5 năm trở lại đây, hành được coi là cây mũi nhọn trong vụ đông của huyện Kinh Môn, luôn chiếm từ 75-80% diện tích cây vụ đông.
Sản phẩm hành hoa Hải Dương là mặt hàng nguyên liệu gia vị chính cung cấp cho các nhà máy chế biến mỳ tôm và thực phẩm trong cả nước. Họ Ong ký sinh Braconidae bao gồm cả loài ngoại ký sinh và nội ký sinh. Các loài ong ngoại ký sinh thường đẻ trứng lên cơ thể vật chủ, quá trình phát triển của trứng và ong non xảy ra bên ngoài cơ thể của vật chủ, còn các loài ong nội ký sinh lại đẻ trứng vào bên trong cơ thể của vật chủ, giai đoạn trứng và ong non phát triển bên trong cơ thể của vật chủ. Trong cả hai trường hợp (nội ký sinh và ngoại ký sinh), sau khi bị nhiễm ong ký sinh, vật chủ vẫn phát triển bình thường cho đến khi ong non các loài ký sinh hoàn thành sự phát triển của chúng bên trong hoặc bên ngoài cơ thể vật chủ, sau đó ong non đẫy sức làm kén bên trong hoặc bên ngoài cạnh xác của vật chủ.
Theo Khuất Đăng Long ( 2011), vật chủ phổ biến của các loài ong ký sinh thuộc họ Braconidae thường là sâu non của hầu hết các loài côn trùng khác, nhưng thường gặp nhiều nhất ở các loài côn trùng thuộc bộ cánh Vảy (Lepidoptera), cánh Cứng (Coleoptera) và Hai cánh (Diptera). Không giống với các loài ong ký sinh khác, ong ký sinh thuộc họ Braconidae không ký sinh các loài chân đốt khác không thuộc lớp côn trùng. 1 Hiện nay, tại các vùng sản xuất hành trên cả nước, sâu keo da láng phát sinh và gây hại nặng. Sâu keo da láng xuất hiện quanh năm với mật độ từ cao đến rất cao, gây hại nặng cho cây hành hoa và có thể làm giảm trên 30% năng suất hành hoa tại vùng chuyên canh như ở Hải Dương, Hưng Yên.
Người trồng hành hoa ở các huyện Kinh Môn, Nam Sách, Kim Thành (Hải Dương), huyện Khoái Châu (Hưng Yên) phải đối mặt với sâu keo da láng. Từ tình hình gây hại của sâu keo da láng hại hành tại một số vùng trồng hành chuyên canh trên, được sự phân công của Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần và đặc điểm sinh học của ong họ Braconidae ký sinh trên sâu hại hành thuộc giống Spodoptera tại Hải Dương và Hưng Yên năm 2022” 1. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Điều tra thành phần sinh vật có ích của sâu keo da láng hại hành, đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài ong ký sinh sâu keo da láng để từ đó góp phần đề xuất biện pháp bảo vệ, lợi dụng cũng như nhân nuôi các loài có ích để đáp ứng nhu cầu trong sản xuất rau màu an toàn hiện nay sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm an toàn sinh học và thân thiện với môi trường rất phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững.
Yêu cầu - Xác định thành phần và đặc điểm sinh học của ong họ Braconidae ký sinh trên sâu hại hành thuộc giống Spodoptera. - Xác đinh được vai trò của loài có triển vọng hạn chế sâu keo da láng. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2.
Phân bố và phạm vi ký chủ sâu keo da láng Spodoptera exigua - Phân bố: Loài sâu keo da láng Spodopter exigua có nguồn gốc ở Nam châu Mỹ. Năm 1972, sâu keo da láng đã được Commonwealth Agricultural Bureaux (1972) ghi nhận có mặt ở 67 quốc gia trên thế giới. Đến năm 1993, loài sâu hại này phân bố rộng khắp các châu lục trên thế giới (D Waterhouse, 1993). Loài dịch hại này gây hại cây trồng nông nghiệp tại nhiều quốc gia vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và đã xuất hiện ở hầu hết các châu lục như châu Phi, châu Á, châu Úc, châu Mỹ, phía nam châu Âu, đặc biệt là ở châu Mỹ và châu Á (OE Liburd & cs.
- Phạm vi ký chủ: Sâu keo da láng Spodoptera exigua (Hübner) là loài côn trùng ăn thực vật có tính đa thực và gây hại trên 90 loài cây thuộc 18 họ thực vật khác nhau. Sâu keo da láng làm giảm đáng kể về năng suất của nhiều cây trồng như dưa hấu, lạc, đậu tương, cà chua, hành, đậu cô ve,.(Samira Farahani & cs. Tình hình gây hại và thiệt hại do sâu keo da láng gây ra trên thế giới Vào những năm 1980 và 1990, sâu keo da láng đã trở thành loài sâu hai nghiêm trọng thứ hai trên cây bông trồng ở Alibama, Georgia, Louisiana, Mississippi và Texas của Mỹ ((TAMM Cuijpers & cs., 1994), Douce & McPherson, 1991; Huffman, 1996; Layton, 1994; Summy & cs. Loài sâu hai này đã bùng phát thành địch, tàn pha nặng trên cây bông ở Texas vào năm 1995 trên diện tích hơn 1.000 ba, trong đó khoảng 480 000 ha được áp dụng các biện pháp dập dịch với chi phí trên 31 triệu USD (Huffin, 1996).000 hà diện tích bông trồng ở Mỹ đã bị sâu keo da láng gây hai nặng và làm thiệt hại khoảng 19,2 triệu USD (William, 1999).
3 Tại California, sâu keo da láng S, exigua đã gây thiệt tại kinh tế đáng kể trên khoảng 200 ha cây ăn quả có múi giai đoạn cây con và cây gốc ghép ở vườn ươm trong mùa hè, mùa thu của các năm 1957, 1958 và 1959 (Atkins, 1960). Ở Malaysia, sâu keo da láng gây hại nhiều trên cánh đồng trồng rau cải bắp, đậu cô ve, cải bó xôi, rau cần tây và cánh đồng trồng hoa cẩm chướng với các giống hoa màu hồng, tím, và đỏ. Trưởng thành sâu keo da láng được tìm thấy quanh năm ở cao nguyên Cameron, Pahang, Malaysia (Azidah, 2008). Thành phần ong ký sinh họ Braconidae trên thế giới Các loài ong họ Braconidae được chia làm hai nhóm lớn Cyclostomes và Noncyclostomes căn cứ vào đặc điểm hình thái cấu tạo miệng và phân tích mối quan hệ phát sinh loài sử dụng các trình tự gen di truyền.
Nhóm Cyclostomes bao gồm 5 phân họ rõ rệt có số lượng loài rất phong phú (Alysiinae, Braconinae, Doryctinae, Opiinae và Rogadinae) và một số giống có kích thước cơ thể nhỏ thường gặp thuộc khoảng 15 phân họ khác nhau. Nhiều phân họ và giống trong số này rất khó xác định về mặt hình thái mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây (Quicke & cs. Nhóm ong ký sinh Noncyclostomes bao gồm các phức hợp Microgastroid, Sigalphoid, Euphoroid, Helconoid và trong phức hợp Helconoid có phức hợp phụ Macrocentroid. Hiện nay, phức hợp Microgastroid được nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới bởi lợi ích lớn của chúng như tác nhân kiểm soát sinh học và mô hình nhóm để tìm hiểu sự tiến hoá của Polydnavirus.
Căn cứ vào kết quả phân tích phân tử, phức hợp Microgastroid có 7 phân họ là Microgastrinae, Cardiochilinae, Cheloninae, Adeliinae, Khoikhoiinae, Mendesellinae và Miracinae. Phức hợp Sigalphoid gồm hai phân họ Sigalphinae và Agathidinae (Belshaw & Quicke (2002). Phức hợp Euphoroid gồm 5 phân họ Cenocoeliinae, Ecnomiinae, Neoneurinae, Euphorinae và Meteorinae. Phức hợp Helconoid gồm 10 phân họ là Acampsohelconinae, Blacinae, Helconinae, Amicrocentrinae, Charmontinae, Homolobinae, Macrocentrinae, Microtypinae, Orgilinae và Xiphozelinae (trích theo Quicke & cs.
4 Sự đa đạng loài ong của họ Braconidae được ghi nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Mexico, 584 loài ong thuộc họ Braconidae đã được mô tả hoặc báo cáo năm 2012 (Yu & cs.,2012), trong đó có khoảng 60 loài đã được mô tả trước đây bởi Wharton & Mercado (2000). Năm 2014, hai loài ong braconid mới được thu thập là Mirax avena và Choreborogas odontofemoralis. Loài ong Mirax avena là loài đầu tiên trong giống này được mô tả cho Mexico.
Loài Choreborogas odontofemoralis là loài thứ hai trong giống được mô tả. Các loài mới được so sánh với các loài cùng giống tương ứng và khóa định loại được cung cấp để xác định chính xác loài (Cauich-Kumul & cs. Gutiérrez-Arellano & cs., (2015) đã thu thập được tổng số 961 mẫu ong ký sinh và đã thu được 883 trình tự COI từ các mẫu ong. Các trình tự DNA thu được tương ứng với gen mã vạch của 289 loài thuộc 30 giống đã được xác định.
Một số giống có số lượng loài lớn là Heterospilus Haliday (170 loài), giống Ecphylus Förster (19 loài), giống Allorhogas Gahan (15 loài) và giống Callihormius Ashmead (14 loài). Kết quả nghiên cứu làm tăng sự đa dạng của các phân họ ở các vùng nghiên cứu lên 32 giống và 290 loài, trong đó 20 loài mới và 2 giống mới được mô tả chi tiết. Theo Rao &cs., (1993), sâu khoang giống Spodoptera bị trên 100 loài kẻ thù tự nhiên (bắt mồi ăn thịt, động vật ký sinh và vi sinh vật ký sinh) trên nhiều vùng của thế giới. sâu khoang trên đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận trong những năm 1996-1998 xuất hiện 6 loài côn trùng ký sinh, 4 loài ong và 2 loài ruồi., (1994), ở vùng phía bắc Thái Lan, sâu non sâu khoang bị một loài ong ký sinh pha sâu non và 2 loài ong ký sinh nhộng, cả 3 loài đều thuộc họ Braconidae.
Như vậy, chứng tỏ vùng Gia Lâm, Hà Nội, sự đa dạng của cánh màng ký sinh sâu khoang tương đối phong phú. Tại Venezuela, bảy loài ong ký sinh mới thuộc giống Notiospathius Matthews & Marsh được mô tả lần đầu tiên trong năm 2012 gồm N. Các loài ong ký sinh mới được phân loại và kiểm tra bằng phương pháp 5 Generalized Mixed Yule Coalescent (GMYC) sử dụng 441 trình tự DNA mã vạch của các mẫu thu được thuộc giống Notiospathius và trình tự của các giống thu thập tại các quốc gia dọc theo vùng Neotropics (López-Estrada & cs. Tại Australia, phân họ Microgastrinae gồm rất nhiều loài ong ký sinh trên sâu non bộ cánh vẩy đã được báo cáo.
Giống Dolichogenidea Vierek chỉ có ở Australia. Năm 2018, các nhà nghiên cứu đã mô tả thêm 3 loài ong ký sinh mới thêm vào cho 6 loài ong cùng giống đã được báo cáo trước đó. Ba loài ong ký sinh mới được phân biệt với các loài khác thuộc cùng giống bằng kích thước ống đẻ trứng rất dài so với hình dáng bình thường của giống. Ba loài ong ký sinh mới được là D.