Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây cà chua (Lycopersicon esculentum Mill.) là một trong những loại cây rau ăn quả giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam nhờ giá trị dinh dưỡng cao (chứa hàm lượng lớn vitamin A, C, lycopene, khoáng chất), giá trị y học và hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Trong lịch sử chọn giống tại Việt Nam, sự ra đời của các giống cà chua chịu nhiệt (như MV1) và các giống lai F1 năng suất cao đã tạo ra bước tiến lớn trong việc mở rộng quy mô sản xuất và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Tuy nhiên, canh tác cà chua tại miền Bắc Việt Nam hiện vẫn đối mặt với rào cản lớn về thời vụ: tỷ lệ đậu quả bị suy giảm nghiêm trọng trong các vụ Xuân Hè và Hè Thu. Nguyên nhân chính là do điều kiện nhiệt độ cao kết hợp ẩm độ không khí cao làm bất thụ hạt phấn, giảm sức sống của noãn và cản trở quá trình thụ phấn, thụ tinh tự nhiên, dẫn tới sụt giảm năng suất hoặc mất mùa. Việc ứng dụng hiện tượng tạo quả không qua thụ phấn, thụ tinh (trinh sản - parthenocarpy) được xác định là hướng đi mang tính chiến lược nhằm giúp cây cà chua có thể đậu quả ổn định trong điều kiện thời tiết bất thuận, mở rộng khung thời vụ và đảm bảo năng suất quanh năm.
Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng đậu quả không hạt của các dòng cà chua mang đột biến iaa9 trong điều kiện vụ xuân năm 2021" được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:
- Mục đích của đề tài: Đánh giá các đặc điểm nông sinh học, đặc tính hình thái, chất lượng quả, khả năng đậu quả không qua thụ phấn thụ tinh và độ đồng đều của các dòng cà chua mang đột biến iaa9-3 và iaa9-5 ở thế hệ F5, từ đó chọn lọc các dòng triển vọng để tiếp tục nhân dòng và đánh giá ở các thế hệ tự thụ tiếp theo.
- Yêu cầu/nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đánh giá các đặc điểm nông sinh học, động thái sinh trưởng thân lá và đặc điểm quả của các dòng cà chua mang đột biến iaa9-3 và iaa9-5.
- Xác định tỷ lệ đậu quả tự nhiên và tỷ lệ đậu quả không qua thụ phấn, thụ tinh của các dòng nghiên cứu thông qua kỹ thuật khử đực.
- Đánh giá ảnh hưởng của tuổi hoa và chiều dài vòi nhụy đến khả năng nhận phấn, đậu quả và tạo hạt ở các dòng có tiềm năng trinh sản.
- Chọn lọc các cá thể, dòng ưu tú phục vụ công tác duy trì và chọn giống thế hệ F6.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: 13 dòng cà chua mang gen đột biến iaa9 ở thế hệ F5 (gồm 8 dòng mang đột biến iaa9-3 ký hiệu nhóm I: I47-10, I114-3, I115-6-5, I117-10-2, I123-5-9, I140-8, I150-2-8, I152-8-11; và 5 dòng mang đột biến iaa9-5 ký hiệu nhóm A: A133-12-1, A138-1-2, A138-8-7, A200-3-8/A200-3-6, A200-7-2) do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển giống rau chất lượng cao cung cấp. Giống đối chứng so sánh là giống thương mại HT109.
- Phạm vi không gian: Khu thí nghiệm của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển giống rau Chất lượng cao – Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Gia Lâm, Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Vụ Xuân năm 2021 (từ tháng 01/2021 đến tháng 09/2021).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
- Phân loại thực vật: Dựa trên hệ thống phân loại chi Lycopersicon của Brezhnev (1964), bao gồm 2 chi phụ Eulycopersicon (chứa loài trồng trọt L. esculentum) và Eriopersicon (chứa các loài hoang dại).
- Cơ chế kiểm soát sự phát triển của quả và hạt: Khóa luận dựa trên mô hình kiểm soát nội tiết thực vật của Vivian-Smith và Koltunow (1999) cùng các nghiên cứu về chu trình tín hiệu phytohormone (Auxin, Gibberellin - GA, Ethylene, Cytokinin, ABA). Bình thường, sự phát triển của bầu nhụy bị kìm hãm cho đến khi có tín hiệu thụ phấn, thụ tinh kích hoạt sinh tổng hợp auxin và GA.
- Đường hướng Gibberellin và hạn chế của các nguồn gen cũ: Các nguồn gen trinh sản truyền thống như pat-1 (Montfavet 191), pat-2 (Severianin), pat-3 và pat-4 (RP75/59) kích hoạt tạo quả qua con đường GA nhưng bộc lộ nhược điểm lớn: độ hữu dục kém khó nhân giống, kích thước quả nhỏ hoặc biểu hiện phụ thuộc quá lớn vào nền di truyền.
- Đường hướng Auxin và gen đột biến IAA9: Gen Aux/IAA9 (IAA9) mã hóa protein ức chế chuỗi truyền tín hiệu auxin. Đột biến lặn mất chức năng trên gen này (iaa9) giải phóng sự kìm hãm, cho phép bầu nhụy tự phát triển thành quả không hạt ngay cả khi không có thụ phấn, thụ tinh. Đột biến iaa9 còn tạo ra chỉ thị hình thái đặc trưng là lá kém phân thùy (dạng lá khoai tây), giúp nhận biết kiểu gen đồng hợp tử dễ dàng.
- Nguồn gốc vật liệu từ Micro-Tom: Các đột biến điểm iaa9-3 (thay thế g238t tạo mã dừng sớm, protein rút ngắn còn 79 amino acid so với 349 amino acid gốc) và đột biến mất đoạn iaa9-5 (mất 32 nucleotide, protein rút ngắn còn 51 amino acid) được tạo ra từ cây cà chua mô hình Micro-Tom qua xử lý EMS (Saito et al., 2011), sau đó được lai chuyển sang nền cà chua thường để phát triển các thế hệ phân ly F2 đến F5.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Bố trí thí nghiệm đồng ruộng: Thí nghiệm đánh giá tập đoàn được bố trí theo phương pháp tuần tự không nhắc lại. Mỗi dòng trồng 22 cây trên luống đôi rộng 1,45 m, cao 25–30 cm; khoảng cách hàng cách hàng 60 cm, cây cách cây 40–45 cm; rãnh luống rộng 30 cm.
- Quy trình kỹ thuật và chăm sóc: Áp dụng theo quy trình chuẩn của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển giống rau Chất lượng cao. Mức phân bón tính cho 1 ha gồm: 12 tấn phân chuồng, 400 kg đạm Urê, 650 kg Supe lân, 360 kg Kali clorua (chia thành bón lót và 4 đợt bón thúc). Cây được cắm giàn chữ A (cọc 1,5 m cắm nghiêng 45°), buộc 2 tầng giàn ngang (ở độ cao 30–35 cm và 60–65 cm), tỉa cành giữ lại 3–5 cành cấp 1.
- Phương pháp đánh giá khả năng trinh sản: Trên mỗi dòng chọn ngẫu nhiên 5 cây, mỗi cây tiến hành khử đực 15 nụ hoa chưa nở (ở tuổi hoa -1 vào buổi sáng sớm) bằng panh chuyên dụng, không thụ phấn và theo dõi tỷ lệ đậu quả không hạt.
- Phương pháp thí nghiệm thụ phấn nhân tạo và can thiệp vòi nhụy: Thực hiện trên 2 dòng đại diện (I47-10 và I123-15-9). Bố trí thí nghiệm 2 yếu tố gồm: Thời điểm thụ phấn (tuổi hoa 0, -1, -2 ngày trước nở - DBA) kết hợp với mức độ cắt vòi nhụy (để nguyên vòi nhụy, cắt 1/2 vòi nhụy, cắt 3/4 vòi nhụy), cùng công thức đối chứng để tự nhiên (tổng cộng 10 công thức thí nghiệm, xử lý trên 5 chùm hoa/cây).
- Phương pháp theo dõi hình thái và chất lượng:
- Chỉ số hình dạng quả $I = H/D$ ($H$: chiều cao quả, $D$: đường kính quả; phân loại: $I > 1,06$ là quả dài, $0,8 \le I \le 1,06$ là quả tròn, $I < 0,8$ là quả dẹt).
- Độ dày thịt quả đo bằng thước kẹp; hàm lượng chất khô hòa tan (độ Brix %) đo bằng máy khúc xạ kế cầm tay; các chỉ tiêu cảm quan (mùi vị, cấu trúc thịt quả, độ ướt) đánh giá theo thang điểm chuẩn.
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả (giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số biến động CV%) bằng phần mềm Microsoft Excel và phần mềm chuyên dụng IRRISTAR.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Mở đầu
Tác giả trình bày vị trí kinh tế - xã hội của cây cà chua, tổng kết các thành tựu chọn giống cà chua tại Việt Nam (thế hệ giống chịu nhiệt MV1, thế hệ giống lai F1 thương mại). Phân tích điểm nghẽn kỹ thuật trong sản xuất vụ Xuân Hè và Hè Thu tại miền Bắc do nhiệt độ và độ ẩm cao làm giảm tỷ lệ đậu quả. Nêu bật ý nghĩa của việc ứng dụng đột biến gen iaa9 nhằm tạo quả trinh sản không hạt và xác định rõ 3 mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Phần II: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hệ thống hóa toàn diện các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về cây cà chua:
- Nguồn gốc phát sinh từ vùng nhiệt đới Nam Mỹ (Peru, Ecuador, Bolivia) và lịch sử thuần hóa tại Mexico.
- Phân loại học thực vật theo Brezhnev (1964).
- Giá trị dinh dưỡng (bảng thành phần trong 100g phần ăn được), giá trị dược học (hợp chất chống oxy hóa lycopene, phòng ngừa tim mạch và ung thư tiền liệt tuyến) và hiệu quả kinh tế (lãi thuần 15–25 triệu đồng/ha tại đồng bằng sông Hồng).
- Nhu cầu sinh thái: nhiệt độ tối thích ngày 18–27°C, đêm 12–15°C (ngưỡng nhiệt >27°C kéo dài gây thoái hóa hạt phấn và rụng hoa); độ ẩm đất thích hợp 70–80%, độ ẩm không khí 45–55%; nhu cầu ánh sáng 14.000–20.000 lux; nhu cầu dinh dưỡng khoáng đa lượng (tỷ lệ hút dinh dưỡng: K > N > P).
- Tổng quan về cà chua mô hình Micro-Tom mang các đột biến lùn (d, mnt, SP) và hiệu quả đột biến hóa học bằng EMS.
- Phân tích cơ chế sinh học phân tử của hiện tượng trinh sản: so sánh đường hướng Gibberellin (các đột biến pat) và đường hướng Auxin (vai trò ức chế của phức hệ Aux/IAA9 và ARF8); cấu trúc phân tử của các alen đột biến iaa9-3, iaa9-4, iaa9-5.
Phần III: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết 13 dòng vật liệu cà chua F5 (8 dòng mang iaa9-3 và 5 dòng mang iaa9-5). Thiết kế thí nghiệm đồng ruộng tuần tự không lặp lại; quy trình thâm canh đất bãi; bảng định mức phân bón nguyên chất và tỷ lệ bón lót/bón thúc qua từng giai đoạn phát triển. Trình bày chi tiết quy trình 5 bước trong thao tác thụ phấn nhân tạo và khử đực: xác định tuổi hoa, thu gom và xử lý hạt phấn dưới đèn 4–6 giờ, khử đực ở tuổi nụ hé mở, cắt vòi nhụy theo tỷ lệ thí nghiệm và chấm phấn kết hợp đánh dấu chỉ màu. Quy định hệ thống chỉ tiêu theo dõi nông sinh học, cấu trúc cây, hình thái - chất lượng quả và công cụ xử lý số liệu (IRRISTAR, Excel).
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung phân tích các số liệu thực nghiệm thu được trong vụ Xuân 2021:
- Thời gian các giai đoạn sinh trưởng: Thời gian từ trồng đến ra hoa dao động từ 34–42 ngày; thời gian đến đậu quả từ 38–48 ngày; thời gian đến chín từ 71–95 ngày. Các dòng mang đột biến iaa9-3 (nhóm I) thể hiện tính chín sớm hơn nhóm mang đột biến iaa9-5 (nhóm A) từ 10–17 ngày (dòng I117-10-2 ra hoa sau 34 ngày và chín sau 71 ngày; dòng A133-12-1 chín muộn nhất sau 95 ngày).
- Động thái tăng trưởng thân lá: Giai đoạn 20–55 ngày sau trồng ghi nhận tốc độ tăng trưởng chiều cao và số lá ổn định. Đến 55 ngày sau trồng, chiều cao cây biến động từ 58,5 cm (I47-10) đến 85,75 cm (A138-8-7). Số lá trung bình trên thân đạt từ 9,1 đến 12,4 lá/cây (dòng I115-6-5 đạt số lá cao nhất). Tốc độ tăng trưởng ở giai đoạn cuối có xu hướng chậm lại do ảnh hưởng của nhiệt độ tăng cao và mưa ngập ruộng.
- Tỷ lệ đậu quả tự nhiên và đậu quả trinh sản: Tỷ lệ đậu quả tự nhiên của tập đoàn đạt từ 17,5% đến 58,4% (thấp hơn giống đối chứng HT109 đạt 56–78%). Tỷ lệ đậu quả không qua thụ tinh sau khi khử đực ở hầu hết các dòng trong vụ này đạt dưới 10%, chỉ có 2 dòng đạt mức khá là I114-3 (31%) và I123-5-9 (12%).
- Ảnh hưởng của tuổi hoa và cắt vòi nhụy đến thụ phấn nhân tạo: Thụ phấn ở tuổi hoa 0 (ngày hoa nở hoàn toàn) cho tỷ lệ đậu quả và đậu hạt cao nhất so với thụ phấn ở tuổi hoa -1, tuổi hoa -2 và đối chứng tự nhiên. Thao tác cắt ngắn vòi nhụy (cắt 1/2 hoặc 3/4) làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tiếp nhận hạt phấn, dẫn đến tỷ lệ đậu quả và số hạt/quả giảm mạnh.
- Đặc điểm hình thái và chất lượng quả: Phần lớn các dòng có dạng quả thuôn dài ($I > 1,06$), kích thước quả nhỏ với đường kính trung bình từ 3–4 cm. Độ dày thịt quả đạt 3,2–6,3 mm (cùi tương đối dày). Hàm lượng chất khô hòa tan (độ Brix) dao động từ 5,0% đến 7,3%, toàn bộ 13 dòng nghiên cứu đều đạt tiêu chuẩn chất lượng phục vụ chế biến công nghiệp (độ Brix > 4,5%).
Phần V: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các kết quả đạt được về thời gian sinh trưởng, năng lực trinh sản, chất lượng quả và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, hướng chọn tạo giống tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp các chỉ tiêu nông sinh học chính của 13 dòng cà chua F5
| TT |
Dòng nghiên cứu |
Gen đột biến |
Thời gian ra hoa (ngày) |
Thời gian đậu quả (ngày) |
Thời gian quả chín (ngày) |
Chiều cao cây 55 ngày (cm) |
Số lá trên cây 55 ngày (lá) |
| 1 |
I47-10 |
iaa9-3 |
35 |
41 |
82 |
$58,5 \pm 7,0$ |
$10,8 \pm 2,2$ |
| 2 |
I114-3 |
iaa9-3 |
36 |
41 |
76 |
$75,8 \pm 8,4$ |
$11,7 \pm 2,4$ |
| 3 |
I115-6-5 |
iaa9-3 |
38 |
44 |
74 |
$85,5 \pm 9,1$ |
$12,4 \pm 2,3$ |
| 4 |
I117-10-2 |
iaa9-3 |
34 |
38 |
71 |
$74,2 \pm 6,5$ |
$10,5 \pm 3,2$ |
| 5 |
I123-5-9 |
iaa9-3 |
39 |
45 |
83 |
$77,0 \pm 7,2$ |
$10,7 \pm 1,3$ |
| 6 |
I140-8 |
iaa9-3 |
41 |
47 |
85 |
$71,5 \pm 5,8$ |
$11,0 \pm 1,5$ |
| 7 |
I150-2-8 |
iaa9-3 |
38 |
44 |
75 |
$69,8 \pm 6,4$ |
$11,2 \pm 1,8$ |
| 8 |
I152-8-11 |
iaa9-3 |
40 |
46 |
84 |
$68,4 \pm 7,1$ |
$10,4 \pm 1,6$ |
| 9 |
A133-12-1 |
iaa9-5 |
40 |
45 |
95 |
$79,2 \pm 6,9$ |
$9,1 \pm 1,4$ |
| 10 |
A138-1-2 |
iaa9-5 |
41 |
44 |
93 |
$81,4 \pm 8,0$ |
$11,5 \pm 2,0$ |
| 11 |
A138-8-7 |
iaa9-5 |
41 |
48 |
89 |
$85,8 \pm 7,8$ |
$11,8 \pm 1,7$ |
| 12 |
A200-3-6 |
iaa9-5 |
42 |
48 |
90 |
$85,0 \pm 8,5$ |
$12,3 \pm 2,1$ |
| 13 |
A200-7-2 |
iaa9-5 |
42 |
47 |
88 |
$83,6 \pm 7,4$ |
$11,6 \pm 1,9$ |
Kết quả chính rút ra từ nghiên cứu
- Đặc điểm sinh trưởng: Các dòng mang đột biến iaa9 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm trung bình. Nhóm dòng I (iaa9-3) có xu hướng sinh trưởng nhanh, ra hoa sớm (34–41 ngày) và chín sớm hơn (71–85 ngày) so với nhóm dòng A (iaa9-5, chín sau 88–95 ngày).
- Khả năng đậu quả trinh sản: Trong điều kiện vụ Xuân 2021, tỷ lệ đậu quả không hạt tự nhiên của quần thể suy giảm đáng kể so với các vụ trước. Hai dòng thể hiện tiềm năng trinh sản vượt trội trong tập đoàn là I114-3 (tỷ lệ đậu quả trinh sản đạt 31%) và I123-5-9 (đạt 12%).
- Quy luật thụ phấn và cấu trúc hoa: Xác định tuổi hoa thích hợp nhất cho thụ phấn nhân tạo là tuổi hoa 0 (khi hoa nở hoàn toàn). Việc can thiệp cơ học cắt ngắn vòi nhụy làm tổn thương nghiêm trọng mô dẫn truyền ống phấn, dẫn đến làm giảm tỷ lệ đậu quả và đậu hạt.
- Giá trị thương phẩm và chế biến: Quả của các dòng nghiên cứu có cùi dày (độ dày thịt quả 3,2–6,3 mm) và độ Brix cao (5,0–7,3%), 100% số dòng đáp ứng tốt tiêu chuẩn nguyên liệu chế biến công nghiệp.
Đóng góp và kiến nghị của tác giả
- Đóng góp khoa học: Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về mức độ biểu hiện kiểu hình, tính trinh sản và đặc điểm nông sinh học của các dòng cà chua mang đột biến iaa9-3 và iaa9-5 trên nền di truyền cà chua thường tại Việt Nam ở thế hệ F5.
- Kiến nghị thực tiễn:
- Lựa chọn các dòng ưu tú gồm I114-3, I123-5-9, I47-10 và I117-10-2 để tiếp tục duy trì, tự thụ và chọn lọc ở thế hệ F6.
- Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá tính ổn định di truyền của tính trạng đậu quả trinh sản qua nhiều vụ khác nhau (đặc biệt là vụ Thu Đông và vụ Hè Thu nóng ẩm).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Do điều kiện thời tiết vụ Xuân 2021 có diễn biến bất lợi (nhiệt độ tăng cao ở giai đoạn cuối vụ kết hợp mưa ngập úng), tỷ lệ đậu quả trinh sản ở đa số các dòng bị ức chế, đạt mức thấp (dưới 10% ở 11/13 dòng), thấp hơn so với các vụ đánh giá trước đó.
- Quần thể F5 vẫn tồn tại sự phân ly nhất định về kiểu hình (hệ số biến động CV% còn cao so với giống thuần đối chứng HT109).
- Kích thước quả của các dòng F5 còn tương đối nhỏ (đường kính quả chỉ từ 3–4 cm), dạng quả chủ yếu là quả dài, chưa đa dạng về khối lượng thương phẩm.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục tự thụ và chọn lọc cá thể qua các thế hệ F6, F7 nhằm nâng cao độ thuần di truyền và độ đồng đều của quần thể.
- Tiến hành khảo nghiệm tính trinh sản trong điều kiện nhà lưới kiểm soát nhiệt độ hoặc trong vụ Hè chính vụ để đánh giá chính xác ngưỡng chịu nhiệt.
- Thực hiện các tổ hợp lai trở lại (backcross) với các dòng/giống cà chua quả to thương phẩm nhằm cải thiện kích thước và khối lượng quả.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Cán bộ nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Di truyền và Chọn giống cây trồng, Nông học, Công nghệ sinh học Nông nghiệp.
- Các kỹ thuật viên và nhà chọn giống rau ăn quả tại các viện nghiên cứu, trung tâm giống cây trồng.
- Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Quy trình và kỹ thuật khử đực, thụ phấn nhân tạo, thu gom và bảo quản hạt phấn cà chua.
- Phương pháp thiết kế thí nghiệm đánh giá trinh sản và khảo sát ảnh hưởng của tuổi hoa/vòi nhụy.
- Cơ sở lý luận về ứng dụng chỉ thị hình thái (kiểu lá khoai tây kém phân thùy) để nhận diện đột biến gen IAA9.
- Hệ thống tiêu chí và thang điểm đánh giá cảm quan, chất lượng và hình thái quả cà chua.
Câu hỏi thường gặp
1. Đột biến iaa9-3 và iaa9-5 khác nhau như thế nào về mặt cấu trúc phân tử di truyền?
Theo Saito et al. (2011) được trích dẫn trong khóa luận, iaa9-3 là đột biến điểm thay thế nucleotide g238t làm xuất hiện mã dừng sớm, tạo ra chuỗi polypeptide chỉ dài 79 amino acid (so với 349 amino acid ở protein IAA9 bình thường). Trong khi đó, iaa9-5 là đột biến mất đoạn 32 nucleotide gây dịch khung đọc mã và tạo mã dừng ở nucleotide số 153, chuỗi polypeptide tạo thành chỉ dài 51 amino acid.
2. Vì sao kiểu hình "lá khoai tây" lại được xem là chỉ thị hình thái quan trọng đối với đột biến iaa9?
Sự suy giảm tích lũy mARN của gen IAA9 do đột biến không chỉ kích hoạt sự hình thành quả không qua thụ phấn mà còn đồng thời làm giảm mức độ phân thùy của phiến lá, tạo nên dạng lá trơn giống lá khoai tây. Đây là đặc điểm liên kết kiểu hình đặc trưng giúp các nhà chọn giống dễ dàng nhận biết và sàng lọc chính xác các cá thể mang gen đột biến iaa9 ở trạng thái đồng hợp tử ngay từ giai đoạn cây con mà không cần phân tích phân tử phức tạp.
3. Trong số 13 dòng nghiên cứu vụ Xuân 2021, những dòng nào biểu hiện khả năng tạo quả trinh sản tốt nhất?
Trong điều kiện thực nghiệm vụ Xuân 2021, phần lớn các dòng có tỷ lệ trinh sản dưới 10%, chỉ có 2 dòng đạt tỷ lệ đậu quả không hạt sau khử đực ở mức khả quan là dòng I114-3 (đạt 31%) và dòng I123-5-9 (đạt 12%). Cả 2 dòng này đều thuộc nhóm mang đột biến iaa9-3.
4. Thao tác cắt ngắn vòi nhụy và thời điểm thụ phấn tác động ra sao đến khả năng đậu quả và tạo hạt?
Kết quả thí nghiệm khẳng định thụ phấn vào tuổi hoa 0 (ngày hoa nở hoàn toàn) cho tỷ lệ đậu quả và đậu hạt cao nhất so với các tuổi hoa trước nở (-1 DBA, -2 DBA). Thao tác cắt ngắn vòi nhụy (dù cắt 1/2 hay 3/4) đều gây tổn thương cơ học nghiêm trọng đến đường dẫn ống phấn, làm giảm sút mạnh tỷ lệ đậu quả và số hạt trên quả so với công thức để nguyên vòi nhụy.
5. Chất lượng quả của các dòng cà chua mang đột biến iaa9 có đáp ứng tiêu chuẩn chế biến không?
Toàn bộ 13 dòng cà chua mang đột biến iaa9 đều đạt chất lượng chế biến công nghiệp tốt với độ dày thịt quả dao động từ 3,2 đến 6,3 mm (thịt quả dày, cấu trúc chắc mịn) và hàm lượng chất khô hòa tan (độ Brix) đạt từ 5,0% đến 7,3%, vượt ngưỡng tiêu chuẩn chế biến tối thiểu (độ Brix > 4,5%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Thị Hoài đã đánh giá chi tiết các đặc tính nông sinh học, động thái tăng trưởng và khả năng tạo quả không hạt của 13 dòng cà chua F5 mang đột biến iaa9-3 và iaa9-5 trong vụ Xuân năm 2021. Kết quả thực nghiệm đã xác định được nhóm dòng mang đột biến iaa9-3 có ưu thế chín sớm và ghi nhận 2 dòng có tiềm năng đậu quả trinh sản nổi bật là I114-3 và I123-5-9, đồng thời toàn bộ tập đoàn đều có độ Brix cao đạt tiêu chuẩn chế biến. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu thực tế và cơ sở chọn giống quan trọng phục vụ chương trình chọn tạo giống cà chua trinh sản có khả năng thích ứng với điều kiện thời tiết bất thuận tại Việt Nam.