Đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng đậu quả không hạt của các dòng cà chua mang đột biến iaa9 trong điều kiện vụ xuân năm 2021 khóa luận tốt nghiệp

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng đậu quả không hạt của các dòng cà chua mang đột biến, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cà chua đột biến iaa9

Cà chua đột biến iaa9 là một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là trong việc phát triển các giống cà chua có khả năng đậu quả không hạt. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng đậu quả không hạt của các dòng cà chua mang đột biến iaa9 trong điều kiện vụ xuân 2021. Mục tiêu chính là xác định tỷ lệ đậu quả không hạt và các đặc điểm nông sinh học để làm cơ sở cho việc chọn lọc các dòng ưu tú, phục vụ cho việc phát triển giống cà chua có khả năng đậu quả không qua thụ tinh.

1.1. Nguồn gốc và giá trị của cà chua

Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill.) là một loại cây rau màu quan trọng trên thế giới, mang lại giá trị dinh dưỡng cao và hiệu quả kinh tế lớn. Nguồn gốc của cà chua được cho là từ vùng Trung và Nam Mỹ, sau đó được thuần hóa và phát triển rộng rãi. Ở Việt Nam, cà chua được du nhập từ thời thực dân Pháp và đã trở thành một loại cây trồng phổ biến. Giá trị dinh dưỡng của cà chua bao gồm hàm lượng cao các vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin C và lycopene, có lợi cho sức khỏe con người.

1.2. Đột biến iaa9 và ứng dụng

Đột biến iaa9 là một đột biến gen liên quan đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cà chua. Đột biến này có khả năng tạo ra quả không hạt, một đặc tính quan trọng trong việc cải thiện năng suất và chất lượng cà chua. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá khả năng đậu quả không hạt của các dòng cà chua mang đột biến iaa9, nhằm tìm ra các dòng triển vọng để tiếp tục nhân giống và chọn lọc.

II. Đặc điểm nông sinh học của cà chua đột biến iaa9

Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các dòng cà chua mang đột biến iaa9 trong điều kiện vụ xuân 2021. Kết quả cho thấy, các dòng nghiên cứu có thời gian từ trồng đến bắt đầu chín dao động từ 71 đến 95 ngày. So với giống thương mại HT109, các dòng nghiên cứu có sự phân ly cao hơn, với tỷ lệ đậu quả tự nhiên dao động từ 17,5% đến 58,4%. Đặc biệt, tỷ lệ đậu quả trinh sản của các dòng nghiên cứu thấp, hầu hết dưới 10%, ngoại trừ hai dòng I114 và I123 có tỷ lệ đậu quả trinh sản lần lượt là 31% và 12%.

2.1. Thời gian sinh trưởng và phát triển

Các dòng cà chua mang đột biến iaa9 có thời gian sinh trưởng từ trồng đến bắt đầu chín dao động từ 71 đến 95 ngày. Đây là thời gian sinh trưởng trung bình, phù hợp với điều kiện canh tác ở miền Bắc Việt Nam. Động thái tăng trưởng của các dòng nghiên cứu cũng được theo dõi, bao gồm sự tăng trưởng về chiều cao cây và số lá, cho thấy sự phát triển ổn định của các dòng này.

2.2. Tỷ lệ đậu quả và đặc điểm quả

Tỷ lệ đậu quả tự nhiên của các dòng cà chua mang đột biến iaa9 dao động từ 17,5% đến 58,4%, thấp hơn so với giống thương mại HT109. Tỷ lệ đậu quả trinh sản của các dòng nghiên cứu cũng thấp, hầu hết dưới 10%, ngoại trừ hai dòng I114 và I123. Quả của các dòng nghiên cứu chủ yếu có dạng quả dài, đường kính quả dao động từ 3 đến 4 cm, độ dày thịt quả từ 3,2 đến 6,3 mm, và độ Brix từ 5,0 đến 7,3%, đạt tiêu chuẩn chế biến.

III. Khả năng đậu quả không hạt của cà chua đột biến iaa9

Nghiên cứu đã đánh giá khả năng đậu quả không hạt của các dòng cà chua mang đột biến iaa9. Kết quả cho thấy, tỷ lệ đậu quả không qua thụ phấn, thụ tinh của các dòng nghiên cứu thấp, hầu hết dưới 10%. Tuy nhiên, hai dòng I114 và I123 có tỷ lệ đậu quả trinh sản cao hơn, lần lượt là 31% và 12%. Điều này cho thấy tiềm năng của các dòng này trong việc phát triển giống cà chua có khả năng đậu quả không hạt.

3.1. Ảnh hưởng của tuổi hoa và chiều cao vòi nhụy

Nghiên cứu cũng đánh giá ảnh hưởng của tuổi hoachiều cao vòi nhụy đến khả năng đậu quả và hạt của các dòng cà chua mang đột biến iaa9. Kết quả cho thấy, thao tác cắt ngắn vòi nhụy (1/2 hoặc 3/4) ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng đậu quả và hạt của hoa. Tỷ lệ đậu quả và hạt thông qua thụ phấn nhân tạo vào tuổi hoa 0 cao hơn so với đối chứng (để tự nhiên) và vào tuổi hoa -1 và tuổi hoa -2.

3.2. Tiềm năng ứng dụng trong chọn tạo giống

Các dòng cà chua mang đột biến iaa9, đặc biệt là dòng I114 và I123, có tiềm năng lớn trong việc phát triển giống cà chua có khả năng đậu quả không hạt. Điều này có thể giúp cải thiện năng suất và chất lượng cà chua, đặc biệt là trong điều kiện canh tác ở miền Bắc Việt Nam, nơi tỷ lệ đậu quả thấp trong các vụ nóng là một thách thức lớn.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cà chua (Lycopersicon estulentum M.), là một trong những loại cây rau màu quan trọng nhất trên thế giới cũng như ở nước ta vì mang nhiều giá trị cao (dinh dưỡng, y học,.) và có hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất. Trong lịch sử từ một loài cây cà chua dại đã được thuần hóa để trở thành loài cây trồng trọt và được chọn lọc cải tiến các tính trạng theo mục tiêu cũng như mục đích của con người trong suốt hàng nghìn năm qua. Trên thế giới các chương trình chọn tạo giống tập trung vào 3 mục tiêu lớn: tăng năng suất, tăng chất lượng và tăng khả năng chống chịu (với các yếu tố sinh học và phi sinh học) kết quả là đã đạt được nhiều thành công. Ở Hà Lan năng suất cá thể cây cà chua có thể đạt tới trên 19kg/cây (mật độ trồng 1 cây/1m2) và năng suất quần thể kỷ lục đạt 500 tấn/ha.

Về chất lượng, từ một loài cây cho kích thước nhỏ đếm rất nhỏ, hăng, ngái (dạng dại) đã được cải biến thành loại cây rau ăn quả đa dạng về kích thước, hình thái, hương vị cũng như khẩu vị,. Ở Việt Nam, từ những năm cuối thế kỷ XX cho đến nay việc chọn tạo giống cà chua đã bắt đầu được chú trọng và cũng đã thu được những thành công nhất định, ví dụ như thành công đột phá đầu tiên là thế hệ giống cà chua chịu nóng với sự ra đời của cà chua MV1 (tác giả Nguyễn Hồng Minh và cs, Đại học Nông nghiệp I); các giống cà chua này đã giúp miền Bắc nước ta, mở ra khả năng phát triển trái vụ có giá trị kinh tế cao hơn. Thành tựu lớn thứ 2 trong chọn tạo giống cà chua là vào những năm 2000 với sự thành công của công nghệ sản xuất giống cà chua lai F1 có tiền năng năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh vượt trội, thành công này đã góp phần trực tiếp vào việc sản xuất cà chua trên quy mô lớn, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và cả hướng tới xuất khẩu. 1 Tuy nhiên canh tác cà chua ở miền Bắc Việt Nam hiện vẫn đang tồn tại một khó khăn khó khắc phục là tỷ lệ đậu quả thấp trong trong các vụ Xuân Hè và Hè Thu (do nhiệt độ cao kết hợp cùng với ẩm độ cao không thích hợp cho quá trình thụ phấn) dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả sản xuất.

Khó khăn này kéo theo sự giới hạn về khung thời vụ sản xuất, diện tích canh tác và sản lượng của loại rau quả có giá trị này. Hiện tượng tạo quả không hạt đã được ghi nhận trên nhiều loại quả và trên cà chua nói riêng (Saito Takeshi & cs. Kiểm soát được đặc tính này trên các giống cà chua trồng vào vụ nóng có thể giúp tăng tỷ lệ đậu quả, đảm bảo năng suất và hiệu quả kinh tế cho sản xuất cà chua quanh năm ở miền Bắc Việt Nam. Đề tài “Đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng đậu quả không hạt của các dòng cà chua mang đột biến iaa9 trong điều kiện vụ xuân năm 2021” nhằm xác định tỷ lệ đậu quả không hạt của các dòng cà chua mang đột biến tạo quả không hạt (iaa9), cùng đặc điểm nông sinh học của các dòng nghiên cứu làm cơ sở để chọn lọc các dòng ưu tú cho chọn tạo cà chua có khả năng đậu quả không qua thụ tinh.

Mục đích của đề tài Đánh giá các đặc điểm nông sinh học và đặc điểm quả, khả năng đậu quả không qua thụ phấn thụ tinh, độ thuần của các dòng cà chua mang đột biến iaa9-3 và iaa9-5 nhằm chọn các dòng triển vọng tiếp tục nhân và chọn lọc ở thế hệ tự thụ tiếp theo. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá các đặc điểm nông sinh học và đặc điểm quả của các dòng cà chua mang đột biến iaa9-3 và iaa9-5. - Đánh giá tỷ lệ đậu quả không qua thụ phấn, thụ tinh của các dòng nghiên cứu - Chọn lọc các dòng triển vọng để tiếp tuc duy trì và chọn lọc ở thế hệ F5 2 PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.

Nguồn gốc, phân loại, giá trị của cây cà chua 2. Nguồn gốc Trên thế giới, nhiều nghiên cứu cho rằng nguồn gốc của cà chua được phát hiện vào thế kỷ XVI ở vùng Trung và Nam châu Mỹ. Theo tài liệu của nhiều tác giả như Choudhury (1970), Decandolle (1884), Luckwill (1943) cho rằng, dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ quần đảo Galapagos tới Chi lê thì cà chua lại có nguồn gốc ở Peru, Ecuador và Bolivia. Đây là một khu vực có khí hậu nhiệt đới khô và cũng tại đây đến tận ngày nay người ta vẫn còn tìm thấy nhiều loài cà chua hoang dại gần gũi với loài cà chua trồng.

Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng cà chua trồng có nguồn gốc từ cây cà chua dại (L. eculentum varpimine llifolum), tuy nhiên nhiều tác giả khác nhận định L. esculentum var cerasiforme (cà chua anh đào) là tổ tiên của cà chua trồng hiện nay trên trái đất. Theo các nghiên cứu của Jenkins (1948), có thể dạng này được chuyển từ Peru và Equado tới Nam Mehico, ở đó nó đã được dân bản xứ thuần hoá và cải tiến.

Câu hỏi đặt ra là dạng cà chua trồng quả lớn được hình thành như thế nào? Về vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau. Đa số các tác giả cho rằng, trong tiến hoá đã xảy ra quá trình đột biến liên quan tới sự liên kết ở noãn, dẫn tới hình thành dạng quả lớn, theo Leslry (1926), dạng đột biến quả lớn được kiểm tra bởi 2 gen lặn. Theo Stuble (1967), kết quả quá trình tích luỹ dần các gen đột biến (lặn) ở dạng dại L. pimpinellifolium đã xuất hiện cà chua trồng (Nguyễn Hồng Minh, 2000).

Jenkins (1948) đã đề xuất 2 hướng tiến hóa về kích thước và hình dạng quả. Hướng thứ nhất là liên quan tới việc tăng thêm kích thước ô hạt, hạt và thịt quả, kết quả thành quả có dạng hình quả mận, hình quả lê và các dạng quả hình dài khác. Hướng thứ 2 là ở noãn xảy sự liên kết giữa các ô hạt làm tăng về đường kính, hình dạng quả lớn có nhiều ô hạt. Theo Luckwill (1943), cây cà chua xuất hiện ở châu Âu vào thế kỉ thứ 16 – 17 và trồng đầu tiên ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italy do những 3 nhà buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha chuyển từ Nam Mỹ tới, từ đó cây cà chua được lan truyền đến các nơi khác.

Trong thời kỳ này, cà chua chỉ được xem như cây cảnh và cây thuốc. Đến thế kỉ 18, cây cà chua mới được chấp nhận là cây thực phẩm có giá trị từ đó được phát triển mạnh (Kuo et al. Nhà thực vât người Pháp đã đặt tên Latinh cho cây cà chua là Lycopersicon esculentum Mill có nghĩa là “ trái đào độc dược ”, “trái đào ” vì cà chua tròn trĩnh và hấp dẫn, “độc dược” vì lúc đó người ta cho nó là một loại quả độc và các nghiên cứu về sinh học phân tử và di truyền phân tử (nghiên cứu các izoenzyme, các marker phân tử, nghiên cứu khoảng cách di truyền) cũng đã xác định điều đó, đồng thời khẳng định rằng Mexico là nơi đầu tiên thuần hóa, trồng trọt cà chua (Mai Thị Phương Anh, 2003). Thế kỷ 17, cà chua được đưa vào châu Á đầu tiên ở Philippin, nhờ các lái buôn người châu Âu và thực dân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha.

Sau đó, được trồng phổ biến trên các nước châu Á khác (Kuo et al. Ở Việt Nam, một số nghiên cứu cho rằng cà chua được du nhập vào Việt Nam từ thời thực dân Pháp chiếm đóng, tức vào khoảng hơn 100 năm trước đây và được người dân thuần hóa trở thành cây bản địa. Từ đó đến nay, cùng với sự phát triển của xã hội, cây cà chua đang ngày càng trở thành một cây trồng có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao. Phân loại Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc họ cà (Solanaceae), chi Lycopersicon.

Có bộ nhiễm sắc thể 2n=24 và gồm có 24 loài. Từ lâu, nhiều tác giả nghiên cứu đã phân lập và xây dựng hệ thống phân loại cây cà chua theo quan điểm của riêng mình như: Muller (1940); Daskalov and Popov (1941); Luckwill (1943), Lehman (1953) Breznhev (1955, 1964); Zuhucospki (1964). Ở Mỹ dùng phân loại của Muller, ở châu Âu, Liên Xô (cũ) thường dùng phân loại của Brezhnev và hệ thống phân loại này được sử dụng rộng rãi ở rất nhiều nước khác (Nguyễn Hồng Minh, 2000). Với phân loại của Breznhev (1955, 1964) cho rằng L.esculentum Tourn được chia 3 loài thuộc 2 chi phụ (Nguyễn Hồng Minh, 2000).

4 Hệ thống phân loại của Breznep (1964) được sử dụng đơn giản và rộng rãi nhất. Chi Lycopersicon Tourn được phân làm 3 loài thuộc 2 chi phụ đó là Eulycopersicon (chi phụ 1) và Eriopersicon (chi phụ 2) (Nguyễn Hồng Minh, 2000). * Chi phụ 1 (Eulycopersicon): là dạng cây 1 năm, quả ăn được, màu đỏ hoặc vàng có sắc tố caroten, hạt to, chùm hoa không có lá bao,.Chi phụ này có một loài là L. Loài này gồm 3 loài phụ là: L.

Cultum (cà chua trồng): là loại lớn nhất, có các biến chủng có khả năng thích ứng rộng, được trồng khắp thế giới. Breznep đã chia loài phụ này thành biến chủng sau: + L. vulgare (cà chua thông thường): biến chủng này chiếm 75% cà chua trồng trên thế giới. Bao gồm các giống có thời gian sinh trưởng khác nhau với trọng lượng quả từ 50 đến trên 100g.

Hầu hết những giống cà chua đang được trồng ngoài sản xuất đều thuộc nhóm này. grandifolium: Cà chua lá to, cây trung bình, lá láng bóng, số lá trên cây từ ít đến trung bình. validum: cà chua anh đào, thân bụi, thân thấp, thân có lông tơ, lá trung bình, cuống ngắn, mép cong. pyriform: cà chua hình quả lê, sinh trưởng vô hạn.

* Chi phụ 2 (Eriopersicon): là dạng cây 1 năm hoặc nhiều năm, gồm các dạng quả có lông màu trắng, xanh lá cây hoặc vàng nhạt, có các vệt màu antoxyan hay xanh thẫm. Hạt dày không có lông, màu nâu… chi phụ này có 2 loài gồm 5 loại hoang dại: L. Lycopersicun hisrutum Humb: Đây là loại cây ngày ngắn, quả chỉ hình thành trong điều kiện chiếu sáng trong ngày 8-10 giờ/ngày, quả chín xanh, có 5 mùi đặc trưng. Loài này thường sống ở độ cao 2200 – 2500m, ít khi ở độ cao 1100m so với mặt nước biển như các loài cà chua khác.

Giá trị của cây cà chua a) Giá trị dinh dưỡng. Là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều gluxit, axit hữu cơ và nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng đậu quả không hạt của cà chua đột biến iaa9 vụ xuân 2021" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm sinh học của giống cà chua đột biến iaa9, đặc biệt là khả năng đậu quả không hạt. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tiềm năng ứng dụng của giống cà chua này trong sản xuất nông nghiệp mà còn mở ra hướng đi mới cho việc cải thiện năng suất và chất lượng nông sản. Những thông tin trong tài liệu sẽ hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và những ai quan tâm đến lĩnh vực nông sinh học.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ phân lập và đánh giá một số tác dụng sinh học của polysaccharide từ lá cây thanh táo justicia gendarussa burm f, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về các tác dụng sinh học của polysaccharide, hoặc Luận văn thạc sĩ hcmute ức chế nấm mốc colletotrichum gloeosporioides gây bệnh thán thư và bảo quản xoài bằng màng tinh bột kết hợp trà xanh cuso4, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu thêm về các biện pháp bảo quản nông sản. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sự thay đổi theo tháng của hàm lượng chất lượng carrageenan và hoạt tính lectin từ rong đỏ betaphycus gelatinus, một nghiên cứu liên quan đến các thành phần tự nhiên trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực nông sinh học.