Đặt vấn đề Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng. Đây là ngành có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của một số quốc gia trên thế giới và đặc biệt với một nƣớc nông nghiệp nhƣ Việt Nam. Nền nông nghiệp nƣớc ta giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nƣớc không những làm tăng thu nhập, tăng việc làm cho ngƣời nông dân mà còn cung cấp lƣợng thực, thực phẩm hằng ngày. Khí hậu thuận lợi cũng là một lợi thế góp phần làm tăng năng xuất cây trồng của nƣớc ta.
Tuy nhiên dịch bệnh, côn trùng gây hại, động vật hại đã và đang suất hiện ngày càng nhiều. Chúng lan rộng đe dọa đến các thời kỳ phát triển của cây trồng làm thiệt hại lớn về kinh tế. Do đó, công cuộc Bảo vệ thực vật là tiềm năng để tăng năng xuất chất lƣợng nông sản phẩm. Cùng với sự phát triển của xã hội ngày nay, xu thế toàn cầu hóa là một nền nông nghiệp vững mạnh, ổn định và phát triển.
Biện pháp bảo vệ thực vật sau một thời gian dài phát triển, đã có nhiều thay đổi rõ ràng. Đối với các loại dịch hại đã có nhiều biện pháp phòng trừ đƣợc áp dụng và nghiên cứu, một trong số biện phá nhƣ: biện pháp sinh học, biện pháp canh tác, biện pháp hóa học,… Đối với mỗi biện pháp nêu trên chúng đều có những điểm mạnh và điểm yếu riêng. Đối với biện pháp sinh học hay canh tác, đây đều là các biện pháp an toàn và bền vững. Tuy nhiên, muốn đạt đƣợc hiệu quả cao thì ngƣời nông dân phải có 1 lƣợng kiến thức nhất định về cây trồng, dịch bệnh, sâu hại, động vật hại, thiên địch và nhiều yếu tố khác.
Bên cạnh đó, đây cũng là cách làm khá tốn kém và không thể dập đƣợc dịch hại một cách nhanh chóng. Hiện nay, với cách canh tác của bà con nông dân thì biện pháp hóa học vẫn là một trong những biện pháp hiệu quả trong thực tế sản suất. Sử dụng đúng cách biện pháp hóa học, chúng ta có thể dập dịch một cách nhanh chóng, đạt năng suất cao, bên cạnh đó ta có thể giảm đƣợc tác hại của thuốc đến môi trƣờng, con ngƣời và các sinh vật có ích khác. 1 Trong những năm qua nông nghiệp nƣớc ta gặp những trở ngại lớn do nhện hại gây ra làm cho cây còi cọc sinh trƣởng phát triển kém, ảnh hƣởng lớn đến năng xuất.
Do chúng khó phát hiện với cơ thể nhỏ bé (con trƣởng thành 0,5 mm), sức sinh sản rất lớn. Bà con nông dân chƣa có kiến thức rõ ràng về loài động vật hại nguy hiểm này. Bên cạnh đó, biện pháp sinh học đối với nên nông nghiệp nƣớc ta vẫn còn rất mới và có rất ít loài thiên địch, do đó chƣa có tính hiệu quả cao trong thực tế sản suất của bà con nông dân. Biện pháp hóa học là biện pháp dễ áp dụng, có tính hiệu quả cao, không yêu cầu quá cao về trình độ kiến thức.
Nếu sử dụng đúng cách và các khuyến cáo, ta sẽ đạt đƣợc hiệu quả cao trong sản suất. Trong những năm gần đây ở vùng đồng bằng sông Hồng, diện tích rau họ đậu đang phát triển khá nhanh, kéo theo đó là các dịch hại phát triển. Hiện nay trên địa bàn của vùng xuất hiện các loài thuộc chi Tetranychus đƣợc gọi là ―nhện đỏ‖ gây hại nhiều làm giảm năng suất cây trồng. Trƣớc tình hình đó, việc tìm ra đƣợc các loại thuốc hóa học có hiệu quả cao trong phòng trừ nhện đỏ, ít ảnh hƣởng đến môi trƣờng, con ngƣời và sinh vật có ích khác là một việc cực kì cấp thiết.
Từ đó để tìm hiểu thêm nghiên cứu để tìm ra các hoạt chất hóa học đảm bảo đƣợc các yêu cầu trên, dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của PGS. Nguyễn Đức Tùng chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá ảnh hƣởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch hại đậu cove tại Hà Nội, năm 2021” 2 1. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Thông qua các thí nghiệm đánh giá ảnh hƣởng của các loại thuốc BVTV đến nhện đỏ hai chấm nhằm xác định đƣợc các loại thuốc có hiệu quả trong phòng trừ loài nhện hại này, đồng thời an toàn với môi trƣờng, con ngƣời và sinh vật có ích khác.
Yêu cầu - Điều tra thành phần nhện đỏ và nhện bắt mồi trên đậu cô ve, điều tra diễn biến mật độ nhện đỏ trên các giai đoạn sinh trƣởng của cây đậu cô ve. - Điều tra các loại thuốc sâu trừ nhện đang đƣợc bà con nông dân sử dụng tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội trong phòng chống nhện đỏ hại rau họ đậu. - Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc trừ sâu nhện đang đƣợc sử dụng ngoài sản xuất đối với một số quần thể nhện đỏ thu đƣợc trên rau họ đậu tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2021. - Xác định mức độ kháng thuốc của một số quần thể nhện đỏ đối với một số hoạt chất thuốc trừ sâu nhện hiện đang đƣợc sử dụng rộng rãi ngoài sản xuất.
- Đánh giá ảnh hƣởng của thuốc trừ sâu nhện đến đặc điểm sinh học của nhện đỏ hai chấm. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC VÀ NGOÀI NƢỚC 2.Tình hình nghiên cứu nƣớc ngoài 2. Một số nghiên cứu về cây họ đậu Họ Đậu hay còn gọi họ Cánh bƣớm (danh pháp khoa học: Fabaceae) là một họ thực vật trong bộ Đậu. Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19.
Các loài tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự (Magallon & Sanderson, 2001). Ƣớc tính các loài trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mƣa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mƣa và rừng khô nhiệt đới ở châu Mỹ và châu Phi (Burnham & Johnson, 2004). Các loài trong họ này có các kiểu phát triển đa dạng từ cây gỗ, cây bụi, thân thảo, dây leo, dây leo thân thảo.
Các loài cây thân thảo có thời gian sinh trƣởng một năm, hai năm hoặc nhiều năm (Judd & cs. Lá thƣờng mọc xen kẽ và khép kín khi nhìn từ trên xuống. Chúng thƣờng có dạng kết hợp chẵn - hoặc lẻ, thƣờng có ba lá chét và hiếm khi có dạng hình chân vịt, còn trong các phân họ Mimosoideae và Caesalpinioideae, thƣờng là cặp lá kép. Một đặc trƣng nổi bật của các loài cây thuộc họ Đậu là chúng có quan hệ mật thiết với nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng.
Các loại vi khuẩn này đƣợc biết đến nhƣ là vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium), có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa nó thành các dạng nitơ mà cây có thể hấp thụ đƣợc (NO3- hay NH4+). Hoạt động này đƣợc gọi là cố định đạm. Cây đậu cung cấp nơi ở và dinh dƣỡng, còn vi khuẩn nốt rễ có vai trò cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh. Mối quan hệ này không chỉ giúp tạo đạm cho cây đậu sử dụng mà còn cho cả các cây khác xung quanh, do đó có tác dụng cải tạo đất (Moreira, 2006).
Theo Cabi (2019) cây họ đậu gặp khá nhiều loài sâu gây hại nhƣ: ruồi đục thân (Melanagromyza sojae), Sâu cuốn lá (Lamprosema indicata), Sâu keo da láng (Spodoptera exigua), Sâu đục quả (Etiella zinckenella) Bọ xít 4 xanh (Nezara viridula), Rệp muội hại đậu tƣơng (Aphis medicaginus), Ruồi đục lá (Japanagromyza tristella), Bọ trĩ (Thrip sp. Đậu cove là một loại đậu phổ biến, năng suất cao, nhiều công dụng. Đậu que, đậu ve hay đậu cô ve (còn gọi là: đậu a-ri-cô-ve do biến âm từ tiếng Pháp: haricot vert) có danh pháp khoa học là Phaseolus vulgaris. Có nhiều giống khác nhau đƣợc trồng với hƣơng vị và màu sắc khác nhau: từ vàng tới lục nhạt hoặc hơi tím.
Quả đậu cô ve có thể đƣợc bán ở dạng đóng hộp, đông lạnh hoặc tƣơi. Cây thân thảo một năm, lá kép với 3 lá chét hình tim hoặc tam giác, chùm hoa gồm nhiều hoa màu trắng hoặc tím. Quả dài, dẹt chứa nhiều hạt hình thận (Moreira, 2006). Đậu cô ve là loài cây thƣờng niên đƣợc thuần hóa ban đầu tại khu vực Mesoamerica và Andes cổ đại của Trung Mỹ, ngày nay đƣợc trồng phổ biến trên khắp thế giới để lấy quả đậu, cả dạng khô lẫn đậu cô ve tƣơi.
Lá cây đậu cô ve đôi khi cũng đƣợc dùng nhƣ rau xanh, và rễ dùng làm thức ăn cho gia súc. Đậu cô ve cùng với bí và ngô là ba loại ngũ cốc cơ bản của nền nông nghiệp thổ dân châu Mỹ. Là một cây thuộc phân họ Đậu, rễ của đậu cô ve các loài vi khuẩn cố định ni tơ cung cấp dƣỡng chất cần thiết cho hai loài cây kia (Moreira, 2006). Một số nghiên cứu chung về nhện Nhện thuộc ngành động vật chân khớp Anthropada, nhện là nhóm có bụng không phân đốt rõ ràng (Krantz, 1978).
Theo Krantz (1978) cho đến nay đã có hơn 30000 loài nhện đã đƣợc miêu tả trong nửa triệu loài. Theo nghiên cứu trên, ở các vùng khác nhau thì sự phân bố của các loài nhện là khác nhau, có những họ chỉ có ở vùng ôn đới mà không có ở vùng nhiệt đới. Nhƣ họ Antypidar, họ Parotopidae chỉ có ở Amazon, hay họ Migidae chỉ ở vùng Nam Phi và trên đảo Madagasca, Milan. Nhện hại là các đối tƣợng gây hại nghiêm trọng trên nhiều loài cây trồng ở nhiều vùng trên thế giới, chúng là điểm thu hút của nhiều nhà khoa học.
Nhện hại cây trồng là những loài động vật nhỏ đến rất nhỏ nằm trong: + Bộ Ve bét (Acarina). 5 + Lớp hình nhện (Arachnida). + Ngành chân khớp (Arthropoda). Nhện thƣờng có 4 đôi chân (một số chỉ có 2 đôi chân ).
Quá trình phát triển trải qua các giai đoạn: trứng, nhện non các tuổi và nhện trƣởng thành. Một số nghiên cứu chung về nhện hại Nghiên cứu về nhện nhỏ hại cây trồng mới chỉ đƣợc tập trung vào nửa sau của thế kỉ 20. Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào 2 tổng họ: tổng họ Tetranychidea và tổng họ Eriophyoidea. Tổng họ Eriophyoidea có khoảng 3.000 loài, tổng họ Tetranychidea bao gồm 2 họ chính là họ Tetranychidae có khoảng 1.200 loài và họ Tenuipalpidae có khoảng 800 loài.
Một số loài nhện hại cây trồng thuộc tổng họ Eriophyidae hoặc Tenuipalpidae là môi giới quan trọng trong việc truyền bệnh virus cho cây trồng (Vásquez & cs. Acarina thuộc lớp Arachnida phân ngành động vật chân kìm. Môi trƣờng sống chủ yếu của chúng là trên cạn, số ít sống dƣới nƣớc, với hơn 50.