Tổng quan luận án
Biến đổi khí hậu với các hiện tượng thời tiết cực đoan và xâm nhập mặn ngày càng gia tăng đang tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp tại vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (Wassmann et al., 2004; Carew-Reid, 2008; Nhan et al., 2011). Cùng với sự bất ổn định về thị trường tiêu thụ, giá bán nông sản thấp và chi phí vật tư tăng cao, việc nông dân chủ động chuyển đổi mô hình canh tác sang nuôi tôm thâm canh—đặc biệt là tôm thẻ chân trắng—diễn ra như một xu thế tất yếu nhằm tìm kiếm hiệu quả kinh tế cao hơn (Clayton, 2003; Nguyễn Thanh Bình và cộng sự, 2009). Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này tiềm ẩn nhiều rủi ro về mặt kỹ thuật, thị trường và ô nhiễm môi trường do việc sử dụng quá mức các yếu tố đầu vào như thức ăn, hóa chất, thuốc kháng sinh và năng lượng hóa thạch (World Bank, 2016). Các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích hai bước (two-step) hoặc phương pháp phi tham số DEA với hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas, dẫn đến hạn chế trong việc kiểm soát hiện tượng nội sinh, phương sai sai số thay đổi và không tách biệt được tác động nhiễu. Luận án tiến sĩ ngành Kinh tế Nông nghiệp của tác giả Nguyễn Thùy Trang (2020) với đề tài "Phân tích hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thâm canh vùng chuyển đổi ven biển Đồng bằng sông Cửu Long" được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này thông qua cách tiếp cận phân tích biên ngẫu nhiên một bước (one-step stochastic frontier analysis).
Mục tiêu chung của luận án là phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mô hình sản xuất sang tôm thâm canh, đo lường hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường cùng các nhân tố chi phối hai chỉ tiêu hiệu quả này của mô hình tôm thâm canh tại vùng ven biển ĐBSCL; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Mục tiêu cụ thể của luận án bao gồm:
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp sang tôm thâm canh vùng chuyển đổi ven biển ĐBSCL;
- Phân tích hiệu quả kinh tế, môi trường và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thâm canh được chuyển đổi vùng ven biển ĐBSCL;
- Đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thâm canh được chuyển đổi vùng ven biển ĐBSCL.
Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
- Câu hỏi 1: Yếu tố nào ảnh hưởng đến chuyển đổi mô hình sản xuất sang tôm thâm canh tại 2 tỉnh Sóc Trăng và Kiên Giang?
- Câu hỏi 2: Hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thâm canh vùng chuyển đổi ven biển ĐBSCL chưa đạt tối ưu?
- Câu hỏi 3: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thâm canh vùng chuyển đổi ven biển ĐBSCL?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp vùng ven biển chịu sự tác động của xâm nhập mặn và các yếu tố đặc điểm nông hộ.
- Giả thuyết 2: Hiệu quả tài chính của mô hình tôm thâm canh chuyển đổi cao hơn so với mô hình cũ.
- Giả thuyết 3: Hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thâm canh chuyển đổi tại tỉnh Sóc Trăng cao hơn so với tỉnh Kiên Giang.
- Giả thuyết 4: Sự kém hiệu quả về kinh tế và môi trường của mô hình tôm vùng chuyển đổi chịu tác động của các yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội như trình độ học vấn, số ao nuôi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh chuyển đổi từ đất trồng mía (tại Sóc Trăng) và mô hình lúa - tôm (tại Kiên Giang); các nông hộ đang duy trì mô hình cũ (trồng mía, lúa - tôm) và các nông hộ đã chuyển đổi sang tôm thâm canh; chính quyền địa phương và cán bộ ngành nông nghiệp cấp huyện, xã.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Cù Lao Dung (tỉnh Sóc Trăng, đại diện vùng chịu ảnh hưởng triều biển Đông) và các huyện U Minh Thượng, An Biên (tỉnh Kiên Giang, đại diện vùng chịu ảnh hưởng triều biển Tây).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 11/2015 đến tháng 05/2019. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp nông hộ từ tháng 03/2017 đến tháng 08/2017, phản ánh kết quả sản xuất của các mùa vụ trong năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Về hành vi chấp nhận kỹ thuật mới và chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp, các nghiên cứu nền tảng gồm mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989), mô hình đặc điểm công nghệ - bối cảnh người dùng của Negatu và Parikh (1999), cùng lý thuyết tối đa hóa hữu dụng của Rahm và Huffman (1984), Sidibé (2005). Các tác giả như Adesina và Zinnah (1993), Barreiro-Hurlé et al. (2010), Knowler và Bradshaw (2007), Lee (2005), Meijer et al. (2015), Wang et al. (2016), Uddin et al. (2014), Tu et al. (2018) đã chỉ ra các nhóm yếu tố tác động gồm đặc điểm nhân khẩu học, nhận thức rủi ro, đặc điểm tài chính, mạng lưới xã hội và đặc điểm nông trại. Về bối cảnh thích ứng biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn tại ĐBSCL, các công trình của Parry et al. (2007), Carew-Reid (2008), Sakamoto et al. (2009), Nhan et al. (2011), Renaud et al. (2015), Clayton (2003), Nguyễn Thanh Bình và cộng sự (2009) khẳng định chuyển đổi sang thủy sản là phản ứng tất yếu trước sự gia tăng độ mặn.
Về phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế, Farrell (1957) đặt nền móng với khái niệm hiệu quả toàn phần (overall efficiency), được phân rã thành hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency - TE) và hiệu quả phân bổ (allocative efficiency - AE). Phương pháp phân tích giới hạn biên ngẫu nhiên (SFA) được khởi xướng bởi Aigner, Lovell và Schmidt (1977) cùng Meeusen và Van Den Broeck (1977). Trong nước, nhiều nghiên cứu sử dụng hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên như Phạm Lê Thông và cộng sự (2011), Nguyễn Văn Tiển và Phạm Lê Thông (2014), Nguyễn Minh Hiếu (2014), Phạm Lê Thông và Nguyễn Thị Phượng (2015). Các nghiên cứu sử dụng hàm chi phí biên ngẫu nhiên gồm Ferrier và Lovell (1990), Worthington (2000), Rosko (2001), Coelli et al. (2005), Tu và Trang (2015). Tuy nhiên, phần lớn các công trình này tiếp cận theo phương pháp hai bước (two-step), vốn bị các chuyên gia kinh tế lượng chỉ ra nhược điểm gây sai lệch tham số ước lượng khi xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi (Caudill & Ford, 1993; Wang & Schmidt, 2002; Greene, 2005; Kumbhakar et al., 2015).
Về đo lường hiệu quả môi trường, Pittman (1983) đưa vấn đề môi trường vào hàm sản xuất thông qua đầu ra không mong đợi (undesirable outputs), dựa trên chỉ số của Caves et al. (1982). Färe et al. (1989) đề xuất chỉ số hiệu quả sản xuất hyperbol qua DEA nhưng không tách được nhiễu thống kê. Khắc phục hạn chế trong việc đo lường đầu ra không mong đợi trong nông nghiệp, Reinhard et al. (1999, 2000) và Reinhard và Thijssen (2000) đề xuất phương pháp đo lường hiệu quả môi trường (environmental efficiency - EE) thông qua việc tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng xấu đến môi trường (environmentally detrimental inputs) như phân đạm, thuốc trừ sâu, nhiên liệu. Hướng tiếp cận này được ứng dụng trong nghiên cứu sản xuất trà của Hong et al. (2016) và sản xuất lúa của Tu (2015), Tu et al. (2015, 2019).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết là việc tích hợp đồng thời việc phân tích nguyên nhân chuyển đổi mô hình, đo lường hiệu quả kinh tế theo hướng tối thiểu hóa chi phí bằng hàm chi phí biến đổi translog một bước (one-step SFA), và đo lường hiệu quả môi trường dựa trên khung lý thuyết của Reinhard et al. (1999) đối với đối tượng tôm thẻ chân trắng thâm canh vùng chuyển đổi ven biển ĐBSCL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các khung lý thuyết kinh tế học sản xuất vi mô và kinh tế lượng ứng dụng:
- Khái niệm thâm canh: Theo Nguyễn Thanh Phương và cộng sự (2014), nuôi tôm thâm canh là phương thức kiểm soát tốt các điều kiện nuôi, có tính nhân tạo cao, năng suất đạt dưới 200 tấn/ha/năm, sử dụng thức ăn công nghiệp, hệ thống quạt nước quản lý oxy và mật độ thả nuôi cao.
- Lý thuyết hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency - CE): Dựa trên lý thuyết hàm chi phí biên ngẫu nhiên của Farrell (1957), Kumbhakar và Lovell (2003), Coelli et al. (2005). Do một số yếu tố đầu vào có tính cố định ngắn hạn và giá cả không hình thành đầy đủ trên thị trường, luận án sử dụng hàm giới hạn chi phí biến đổi dạng translog (translog variable cost frontier) theo Brown và Christensen (1980), Caves et al. (1982), Grisley và Gitu (1985):
$$\ln VC_i = \beta_0 + \beta_y \ln y_i + \sum_n \alpha_n \ln w_{ni} + \sum_m \gamma_{mi} z_{mi} + \frac{1}{2} \beta_{yy} (\ln y_i)^2 + \frac{1}{2} \sum_n \sum_k \alpha_{nk} \ln w_{ni} \ln w_{ki} + \frac{1}{2} \sum_m \sum_r \gamma_{mr} \ln z_{mi} \ln z_{ri} + \sum_n \alpha_{ny} \ln w_{ni} \ln y_i + \sum_m \gamma_{my} \ln z_{mi} \ln y_i + \sum_m \sum_n \gamma_{mn} \ln z_{mi} \ln w_{ni} + v_i + u_i$$
Trong đó, $VC_i$ là tổng chi phí biến đổi; $y_i$ là sản lượng đầu ra; $w_{ni}$ là giá các đầu vào biến đổi; $z_{mi}$ là lượng đầu vào cố định; $v_i \sim iid\ N(0, \sigma_v^2)$ thể hiện tác động nhiễu ngẫu nhiên; $u_i \ge 0$ thể hiện phần phi hiệu quả kinh tế. Luận án áp dụng phương pháp ước lượng một bước theo Kumbhakar et al. (2015), mô hình hóa trực tiếp $\mu_i = \exp(h_{u,i}; b_u)$ với $h_{u,i}$ là các biến điều kiện kinh tế - xã hội để triệt tiêu hiện tượng nội sinh và sai lệch ước lượng. Hiệu quả kinh tế được tính theo công thức: $CE_i = \exp(-u_i)$.
- Lý thuyết hiệu quả môi trường (Environmental Efficiency - EE): Dựa trên khung phân tích của Reinhard et al. (1999, 2000), hàm sản xuất biên ngẫu nhiên translog được thiết lập với đầu ra $Y$, nhóm đầu vào thông thường $X$ (lao động, chi phí cải tạo ao) và nhóm đầu vào có hại cho môi trường $Z$ (thức ăn, thuốc kháng sinh/hóa chất, nhiên liệu):
$$\ln Y_i = \beta_0 + \sum_k \beta_k \ln X_{ki} + \sum_m \alpha_m \ln Z_{mi} + \frac{1}{2} \sum_k \sum_n \beta_{kn} \ln X_{ki} \ln X_{ni} + \frac{1}{2} \sum_m \sum_h \alpha_{mh} \ln Z_{mi} \ln Z_{hi} + \sum_k \sum_m \delta_{km} \ln X_{ki} \ln Z_{mi} + v_i - u_i$$
Bằng cách giả định hộ đạt hiệu quả kỹ thuật ($u_i = 0$) khi co cụm các đầu vào xấu theo tỷ lệ $\Phi_i$ ($EE_i = \Phi_i$), cân bằng sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng dẫn đến phương trình bậc hai: $a_i (\ln EE_i)^2 + b_i (\ln EE_i) + u_i = 0$. Nghiệm dương duy nhất thỏa mãn điều kiện kinh tế học được xác định:
$$EE_i = \exp\left(\frac{-b_i + \sqrt{b_i^2 - 4a_i u_i}}{2a_i}\right)$$
Trong đó:
$$a_i = \frac{1}{2} \sum_m \sum_h \alpha_{mh}$$
$$b_i = \sum_m \alpha_m + \sum_m \sum_h \alpha_{mh} \ln Z_{mi} + \sum_k \sum_m \delta_{km} \ln X_{ki}$$
Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu:
- Phương pháp định tính: Sử dụng công cụ Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), gồm 4 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân (KIP) với lãnh đạo và cán bộ nông nghiệp cấp huyện, xã; 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung (FGD) với đại diện nông dân nhằm nhận diện thuận lợi, khó khăn và thể chế chính sách.
- Phương pháp định lượng: Mô hình hồi quy Logit nhị phân phân tích các yếu tố quyết định chuyển đổi mô hình canh tác; phương pháp ước lượng hợp lý cực đại (MLE) một bước cho hàm chi phí biên translog đo lường $CE$; mô hình hồi quy Tobit phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến $EE$ do biến phụ thuộc $EE_i$ bị chặn trong khoảng $(0, 1]$.
- Cỡ mẫu điều tra: Tổng cộng 294 nông hộ được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi soạn sẵn tại hai tỉnh Sóc Trăng và Kiên Giang.
| Tỉnh |
Địa bàn nghiên cứu (Huyện) |
Loại hình canh tác khảo sát |
Số lượng mẫu (Hộ) |
| Sóc Trăng |
Cù Lao Dung |
Đang canh tác mía |
67 |
| Sóc Trăng |
Cù Lao Dung |
Chuyển đổi từ mía sang tôm thâm canh |
90 |
| Kiên Giang |
An Biên, U Minh Thượng |
Đang canh tác lúa - tôm |
70 |
| Kiên Giang |
An Biên, U Minh Thượng |
Chuyển đổi từ lúa - tôm sang tôm thâm canh |
67 |
| Tổng cộng |
|
|
294 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 trình bày bối cảnh nghiên cứu về áp lực của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và thị trường tại ĐBSCL dẫn đến sự chuyển dịch mô hình sản xuất nông nghiệp ven biển sang tôm thâm canh. Luận án xác định rõ 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu và 4 giả thuyết khoa học. Đối tượng nghiên cứu được giới hạn vào các nông hộ trồng mía, lúa - tôm và nuôi tôm thâm canh tại huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng) và các huyện An Biên, U Minh Thượng (Kiên Giang) với dữ liệu mùa vụ năm 2017. Chương này cũng nêu rõ tính mới về mặt phương pháp luận khi áp dụng mô hình biên ngẫu nhiên translog một bước để ước lượng đồng thời hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường cho mô hình tôm chuyển đổi.
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 2 tổng hợp có hệ thống các lý thuyết và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến 4 mảng nội dung: các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận công nghệ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi; các phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế (hàm lợi nhuận biên, hàm chi phí biên); các phương pháp lượng hóa hiệu quả môi trường (tiếp cận theo đầu ra không mong đợi và tiếp cận theo đầu vào gây hại môi trường); và các mô hình hồi quy xác định nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất (đặc biệt là mô hình Tobit). Qua đó, chương 2 xác lập cơ sở khoa học để lựa chọn hệ thống biến số đầu vào, đầu ra, các biến đầu vào xấu (thức ăn, thuốc kháng sinh, nhiên liệu) và các biến đặc trưng nông hộ.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa khung phân tích và cơ sở toán học của các mô hình kinh tế lượng sử dụng trong luận án. Tác giả trình bày phương trình hàm chi phí biến đổi translog một bước, các ràng buộc đồng nhất bậc 1 về giá và tính đối xứng của hàm chi phí. Đồng thời, chương này thiết lập công thức giải nghiệm bậc hai để tính toán chỉ số hiệu quả môi trường $EE$ từ hàm sản xuất biên ngẫu nhiên translog theo Reinhard et al. (1999). Thiết kế nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu định tính (PRA, KIP, FGD) và dữ liệu định lượng thông qua khảo sát 294 nông hộ với cấu trúc mẫu phân tầng tại hai tiểu vùng sinh thái ven biển.
Chương 4: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Chương 4 phân tích tổng quan ngành tôm ĐBSCL và đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng) cùng huyện An Biên, U Minh Thượng (Kiên Giang). Diện tích nuôi tôm nước lợ toàn vùng ĐBSCL năm 2018 đạt 679.152 ha; diện tích tôm thẻ chân trắng tăng trưởng hơn 17 lần trong giai đoạn 2008-2018 (từ 4.477 ha lên 78.000 ha). Tại Cù Lao Dung, diện tích mía giảm trung bình 3,6%/năm do xâm nhập mặn, chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng với tốc độ tăng trưởng diện tích tôm của Sóc Trăng đạt bình quân 116,83%/năm. Tại Kiên Giang, tốc độ tăng diện tích tôm đạt 36,24%/năm với sự chuyển đổi mạnh từ lúa - tôm sang tôm chuyên canh.
Về hiệu quả tài chính so sánh giữa các mô hình:
- Tại Sóc Trăng: Lợi nhuận mô hình nuôi tôm thâm canh đạt bình quân 827,48 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 33,29 lần so với mô hình trồng mía (24,85 triệu đồng/ha/năm). Lợi nhuận bình quân theo vụ của tôm đạt 430 triệu đồng/ha/vụ.
- Tại Kiên Giang: Lợi nhuận mô hình tôm thâm canh đạt bình quân 394 triệu đồng/ha/vụ, cao gấp khoảng 12 lần so với mô hình lúa - tôm.
- Về hiệu quả sử dụng đồng vốn: Mặc dù tôm thâm canh tạo ra quy mô lợi nhuận tuyệt đối rất lớn, nhưng các chỉ số tài chính gồm tỷ suất Doanh thu/Chi phí, Lợi nhuận/Chi phí và Lợi nhuận/Doanh thu của mô hình trồng mía và mô hình lúa - tôm lại cao hơn so với mô hình tôm thâm canh do tôm thâm canh đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu và chi phí biến đổi rất cao.
| Chỉ tiêu tài chính / kỹ thuật |
Trồng mía (Sóc Trăng) |
Tôm thâm canh (Sóc Trăng) |
Mô hình Lúa - Tôm (Kiên Giang) |
Tôm thâm canh (Kiên Giang) |
| Lợi nhuận trung bình |
24,85 triệu đ/ha/năm |
827,48 triệu đ/ha/năm (430 tr đ/ha/vụ) |
20 - 90 triệu đ/ha/năm |
394 triệu đ/ha/vụ |
| Tỷ suất Lợi nhuận / Chi phí |
Cao hơn tôm |
Thấp hơn mía |
Cao hơn tôm |
Thấp hơn lúa - tôm |
| Yêu cầu vốn và chi phí đầu tư |
Thấp |
Rất cao |
Thấp |
Rất cao |
| Mức độ rủi ro kỹ thuật & thị trường |
Thấp |
Rất cao |
Trung bình |
Rất cao |
Chương 5: Kết quả và thảo luận
Chương 5 trình bày kết quả phân tích định lượng từ dữ liệu khảo sát 294 nông hộ:
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi mô hình (Hồi quy Logit):
- Tại Sóc Trăng (chuyển đổi từ mía sang tôm thâm canh): Các biến Lao động nữ, Vay vốn, Tham gia tổ chức, Diện tích đất và Khoảng cách từ đất canh tác đến sông có tác động tỷ lệ nghịch (-) có ý nghĩa thống kê đến quyết định chuyển đổi; trong khi biến Trình độ học vấn của chủ hộ là yếu tố duy nhất có tác động tỷ lệ thuận (+).
- Tại Kiên Giang (chuyển đổi từ lúa - tôm sang tôm thâm canh): Biến Khoảng cách từ ruộng đến sông tác động tỷ lệ nghịch (-); trong khi biến Trình độ học vấn và Kinh nghiệm nuôi tôm tác động tỷ lệ thuận (+) đến quyết định chuyển đổi mô hình.
- Ước lượng hiệu quả kinh tế (Cost Efficiency - CE) qua hàm chi phí biến đổi translog một bước:
- Mức hiệu quả kinh tế trung bình của mô hình nuôi tôm tỉnh Kiên Giang đạt 89,98%, trong khi tỉnh Sóc Trăng đạt 86,95% (sự khác biệt giữa hai tỉnh không có ý nghĩa thống kê).
- Kết quả này chỉ ra rằng nông hộ nuôi tôm tại Kiên Giang và Sóc Trăng có thể cắt giảm lần lượt 10,02% và 13,05% tổng chi phí sản xuất mà vẫn duy trì mức sản lượng đầu ra không đổi.
- Các nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kinh tế: Biến Số ao nuôi có tác động tỷ lệ nghịch (-); hai biến Diện tích ao nuôi và Mật độ thả nuôi có tác động tỷ lệ thuận (+) đến mức hiệu quả kinh tế của nông hộ.
- Ước lượng hiệu quả môi trường (Environmental Efficiency - EE) và các yếu tố ảnh hưởng:
- Mức hiệu quả môi trường trung bình của mô hình tôm chuyển đổi toàn vùng nghiên cứu đạt 91,77%; cụ thể tỉnh Kiên Giang đạt 97,02% và tỉnh Sóc Trăng đạt 89,73%.
- Nông hộ nuôi tôm tại tỉnh Sóc Trăng và Kiên Giang có tiềm năng cắt giảm lần lượt 10,27% và 2,08% tổng lượng các yếu tố đầu vào có hại cho môi trường (thức ăn công nghiệp, thuốc/hóa chất, nhiên liệu xăng dầu) mà không làm suy giảm sản lượng tôm thu hoạch.
- Kết quả hồi quy Tobit về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả môi trường: Có 5 yếu tố có ý nghĩa thống kê, trong đó Kinh nghiệm nuôi tôm, Diện tích ao và Mật độ thả nuôi tác động tỷ lệ thuận (+); biến Địa bàn nghiên cứu và Số ao nuôi tác động tỷ lệ nghịch (-) đến hiệu quả môi trường.
| Chỉ số hiệu quả và nhân tố ảnh hưởng |
Tỉnh Sóc Trăng |
Tỉnh Kiên Giang |
Toàn vùng nghiên cứu / Chiều tác động |
| Hiệu quả kinh tế trung bình (CE) |
86,95% |
89,98% |
Không khác biệt ý nghĩa |
| Tiềm năng cắt giảm chi phí sản xuất |
13,05% |
10,02% |
- |
| Nhân tố tác động đến CE (SFA 1 bước) |
|
|
Số ao (-), Diện tích ao (+), Mật độ (+) |
| Hiệu quả môi trường trung bình (EE) |
89,73% |
97,02% |
91,77% |
| Tiềm năng cắt giảm đầu vào xấu (thức ăn, thuốc, dầu) |
10,27% |
2,08% |
- |
| Nhân tố tác động đến EE (Hồi quy Tobit) |
|
|
Địa bàn (-), Số ao (-), Kinh nghiệm (+), Diện tích ao (+), Mật độ (+) |
Chương 6: Kết luận và kiến nghị
Chương 6 tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, khẳng định việc chuyển đổi sang tôm thâm canh mang lại lợi nhuận vượt trội nhưng đòi hỏi quản trị chi phí và kiểm soát môi trường chặt chẽ. Luận án đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường, tập trung vào: hoàn thiện quy hoạch vùng chuyển đổi; thiết kế diện tích ao nuôi và mật độ thả phù hợp; kiểm soát định lượng thức ăn và hóa chất; đầu tư hệ thống ao lắng xử lý nước thải; nâng cao năng lực kỹ thuật và quản lý tài chính cho nông hộ chuyển đổi.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý thuyết và phương pháp luận:
- Luận án ứng dụng phương pháp ước lượng biên ngẫu nhiên theo hướng một bước (one-step SFA) đối với hàm chi phí biến đổi translog trong phân tích hiệu quả kinh tế, khắc phục được các khiếm khuyết kinh tế lượng của phương pháp hai bước truyền thống như hiện tượng nội sinh và ước lượng sai lệch tham số phi hiệu quả.
- Luận án đóng góp cơ sở lý thuyết và quy trình thực nghiệm trong việc đo lường hiệu quả môi trường thông qua việc tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào gây hại môi trường (thức ăn, thuốc kháng sinh, nhiên liệu) dựa trên mô hình Reinhard et al. (1999) cho ngành nuôi tôm nước lợ tại ĐBSCL.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp luận cứ thực nghiệm toàn diện về sự đánh đổi giữa hiệu quả tài chính ngắn hạn (lợi nhuận tôm cao gấp 12 đến 33,29 lần mô hình cũ) và các chỉ số hiệu quả sử dụng đồng vốn cùng rủi ro môi trường tại vùng chuyển đổi ven biển Sóc Trăng và Kiên Giang.
- Lượng hóa cụ thể tiềm năng tiết kiệm chi phí đầu tư (10,02% - 13,05%) và tỷ lệ có thể cắt giảm các chất thải/đầu vào xấu gây ô nhiễm nguồn nước và phát thải khí nhà kính (2,08% - 10,27%) mà không làm suy giảm sản lượng tôm.
- Xác định rõ các yếu tố kỹ thuật có thể can thiệp trực tiếp để nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường: tăng diện tích ao nuôi hợp lý, tối ưu hóa mật độ thả giống, tránh phân tán quá nhiều ao nhỏ gây khó khăn cho quản lý, và tăng cường tích lũy kinh nghiệm nuôi.
Kiến nghị, giải pháp đề xuất:
- Đối với nông hộ: Cần thiết kế quy mô ao nuôi tập trung, bố trí diện tích ao lắng lấy nước và xử lý nước thải đạt chuẩn trước khi xả thải; tuân thủ quy trình cho ăn chuẩn xác để tránh dư thừa thức ăn gây phú dưỡng nguồn nước; quản lý chặt chẽ việc sử dụng hóa chất, thuốc kháng sinh và nhiên liệu chạy quạt nước; kiểm soát mật độ nuôi phù hợp với năng lực kỹ thuật.
- Đối với chính quyền địa phương và cơ quan quản lý nông nghiệp: Cần rà soát và thực hiện nghiêm quy hoạch vùng chuyển đổi ven biển thích ứng với xâm nhập mặn; đầu tư đồng bộ hạ tầng thủy lợi cấp - thoát nước tách biệt; tăng cường các chương trình khuyến nông tập huấn kỹ thuật nuôi tôm thâm canh cho các hộ mới chuyển đổi từ trồng trọt; hỗ trợ cơ chế tiếp cận tín dụng chính thức và khuyến khích nông dân tham gia hợp tác xã, tổ hợp tác để chia sẻ thông tin kỹ thuật và thị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án tập trung phân tích chuyên sâu mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh trong phần lượng hóa hiệu quả kinh tế và môi trường, chưa mở rộng so sánh định lượng chi tiết với mô hình tôm sú thâm canh hay các hình thức nuôi siêu thâm canh công nghệ cao.
- Dữ liệu khảo sát sơ cấp phản ánh hoạt động sản xuất của các mùa vụ trong năm 2017 tại hai địa bàn đại diện là Sóc Trăng và Kiên Giang, chưa bao quát toàn bộ các tỉnh ven biển khác trong vùng ĐBSCL.
- Việc đo lường hiệu quả môi trường được thực hiện gián tiếp thông qua các yếu tố đầu vào gây ô nhiễm (thức ăn, thuốc/hóa chất, nhiên liệu hóa thạch) mà chưa thể đo lường trực tiếp các chỉ số hóa lý nước thải thực tế tại từng ao nuôi như BOD, COD, tổng Nitơ, tổng Phospho hay lượng phát thải khí nhà kính thực tế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tỉnh ven biển khác thuộc ĐBSCL (như Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau) và các hình thức nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao (nuôi tôm tuần hoàn nước, Biofloc).
- Kết hợp phương pháp kinh tế lượng với các phép đo nghiệm sinh hóa trực tiếp chất lượng nước thải và bùn đáy ao để kiểm chứng mức độ tác động môi trường thực địa.
- Xây dựng các nghiên cứu theo chuỗi dữ liệu bảng (panel data) nhiều năm để theo dõi sự biến động của hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và khả năng thích ứng dài hạn của nông hộ trước diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và biến động thị trường toàn cầu.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Kinh tế Tài nguyên - Môi trường và Nuôi trồng Thủy sản: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận kinh tế lượng ứng dụng SFA một bước dạng translog, quy trình giải nghiệm bậc hai tính toán chỉ số hiệu quả môi trường theo Reinhard et al. (1999), cùng kỹ thuật xây dựng mô hình hồi quy Logit và Tobit.
- Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nông nghiệp cấp vùng và cấp tỉnh tại ĐBSCL: Phần phân tích thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp, so sánh hiệu quả tài chính và các nhân tố chi phối hiệu quả kinh tế - môi trường (Chương 4 và Chương 5) cung cấp căn cứ thực tiễn phục vụ công tác rà soát quy hoạch, quản lý tài nguyên đất ven biển và kiểm soát rủi ro môi trường trong nuôi tôm thâm canh.
- Cán bộ khuyến nông và nông hộ vùng ven biển: Các kết quả về vai trò của diện tích ao, số ao nuôi, mật độ thả giống và tiềm năng cắt giảm chi phí/đầu vào xấu là nguồn thông tin hữu ích giúp điều chỉnh thực hành canh tác nhằm tối ưu hóa chi phí và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Hiệu quả tài chính của mô hình tôm thâm canh chuyển đổi chênh lệch như thế nào so với các mô hình canh tác cũ?
Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận của mô hình tôm thâm canh vượt trội hoàn toàn so với mô hình cũ. Tại Sóc Trăng, mô hình nuôi tôm thâm canh đạt lợi nhuận bình quân 827,48 triệu đồng/ha/năm (430 triệu đồng/ha/vụ), cao gấp 33,29 lần so với mô hình trồng mía (24,85 triệu đồng/ha/năm). Tại Kiên Giang, mô hình tôm thâm canh đạt lợi nhuận bình quân 394 triệu đồng/ha/vụ, cao gấp khoảng 12 lần so với mô hình lúa - tôm. Tuy nhiên, khi xét về các chỉ số hiệu quả sử dụng đồng vốn (tỷ suất Doanh thu/Chi phí, Lợi nhuận/Chi phí, Lợi nhuận/Doanh thu), mô hình trồng mía và lúa - tôm lại đạt tỷ suất cao hơn do chi phí đầu tư thấp hơn rất nhiều.
2. Mức hiệu quả kinh tế (CE) của nông hộ nuôi tôm tại địa bàn nghiên cứu đạt bao nhiêu và tiềm năng giảm chi phí như thế nào?
Theo kết quả ước lượng hàm chi phí biến đổi translog một bước, mức hiệu quả kinh tế trung bình của mô hình nuôi tôm tại tỉnh Kiên Giang là 89,98% và tại tỉnh Sóc Trăng là 86,95% (khác biệt giữa hai tỉnh không có ý nghĩa thống kê). Với mức hiệu quả này, nông hộ nuôi tôm tại Kiên Giang và Sóc Trăng có tiềm năng cắt giảm lần lượt 10,02% và 13,05% tổng chi phí đầu tư sản xuất mà vẫn giữ nguyên sản lượng đầu ra trong điều kiện công nghệ và giá đầu vào không đổi.
3. Hiệu quả môi trường (EE) được lượng hóa ra sao và nông hộ có thể cắt giảm bao nhiêu phần trăm các yếu tố đầu vào gây ô nhiễm?
Mức hiệu quả môi trường trung bình của mô hình tôm thâm canh vùng nghiên cứu đạt 91,77%, trong đó Kiên Giang đạt 97,02% và Sóc Trăng đạt 89,73%. Điều này đồng nghĩa với việc nông hộ nuôi tôm tại tỉnh Sóc Trăng có thể cắt giảm 10,27% và tại Kiên Giang có thể cắt giảm 2,08% tổng lượng các yếu tố đầu vào gây hại môi trường (thức ăn công nghiệp, thuốc/hóa chất, nhiên liệu) mà không làm suy giảm sản lượng tôm thu hoạch.
4. Những yếu tố nào ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến quyết định chuyển đổi mô hình sản xuất sang tôm thâm canh?
Theo mô hình hồi quy Logit:
- Tại Sóc Trăng (chuyển từ mía sang tôm): Lao động nữ, Vay vốn, Tham gia tổ chức, Diện tích đất và Khoảng cách từ đất đến sông có tác động tỷ lệ nghịch (-); Trình độ học vấn của chủ hộ tác động tỷ lệ thuận (+).
- Tại Kiên Giang (chuyển từ lúa - tôm sang tôm thâm canh): Khoảng cách từ ruộng đến sông tác động tỷ lệ nghịch (-); Trình độ học vấn và Kinh nghiệm nuôi tôm tác động tỷ lệ thuận (+) đến quyết định chuyển đổi.
5. Các nhân tố nào quyết định đến mức độ hiệu quả kinh tế (CE) và hiệu quả môi trường (EE) của nông hộ nuôi tôm?
Kết quả hồi quy một bước cho thấy hiệu quả kinh tế chịu tác động tỷ lệ thuận (+) bởi Diện tích ao và Mật độ thả nuôi, và chịu tác động tỷ lệ nghịch (-) bởi Số lượng ao nuôi. Đối với hiệu quả môi trường, mô hình hồi quy Tobit chỉ ra rằng Kinh nghiệm nuôi tôm, Diện tích ao và Mật độ thả nuôi có tác động tỷ lệ thuận (+); trong khi biến Địa bàn và Số lượng ao nuôi có tác động tỷ lệ nghịch (-) đến hiệu quả môi trường.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thùy Trang (2020) đã giải quyết toàn diện vấn đề chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp sang tôm thâm canh tại vùng ven biển ĐBSCL trước tác động của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Bằng việc ứng dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên translog một bước kết hợp mô hình Reinhard et al. (1999), nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết sự đánh đổi tài chính, mức hiệu quả kinh tế (86,95% - 89,98%) và hiệu quả môi trường (89,73% - 97,02%) của nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại Sóc Trăng và Kiên Giang. Kết quả nghiên cứu chứng minh tiềm năng cắt giảm chi phí đầu tư từ 10,02% đến 13,05% và giảm thiểu các chất thải gây ô nhiễm từ 2,08% đến 10,27%, đồng thời xác định các biến số then chốt như quy mô ao nuôi, số ao, mật độ và kinh nghiệm quản lý. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch chuyển đổi đất nông nghiệp, quản trị rủi ro và định hướng phát triển bền vững ngành tôm vùng ven biển ĐBSCL.