CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế (HQKT) trong Nông nghiệp: là tổng hợp các hao phí về lao động và lao động vật chất hóa để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp. Nó thể hiện bằng cách so sánh kết quả sản xuất đạt được với khối lượng chi phí lao động và chi phí vật chất bỏ ra. Lúc đó ta phải tình đến việc sử dụng đất đai và nguồn dự trữ vật chất, lao động, hay nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp (vốn sản xuất, vốn lao động, vốn đất đai).
Nghĩa là tiết kiệm tối đa các chi phí mà thực chất là hao phí lao động để tạo ra một đơn vị sản phẩm. HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của quá trình sản xuất. Nó được xác định bằng so sánh kết quả với chi phí bỏ ra. Hiệu quả xã hội: Là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh công ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội như tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội,.
Hiệu quả môi trường: Thể hiện bảo vệ tốt hơn môi trường như tăng độ che phủ mặt đất, giảm ô nhiễm đất, nước, không khí,. Trong các loại hiệu quả thì HQKT là quan trọng nhất, nhưng không thể bỏ qua hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Vì vậy khi nói tới HQKT người ta thường có ý bao hàm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [2]. Cơ sở lý luận về chăn nuôi lợn 1.
Khái niệm Chi lợn (hay chi Heo theo phương ngữ miền Nam của tiếng Việt) là một chi động vật móng guốc có nguồn gốc ở lục địa Á-Âu được gộp nhóm tổng thể với danh pháp khoa học là Sus, thuộc họ Lợn (Suidae). Lợn rừng đã được thuần hóa và được nuôi như là một dạng gia súc để lấy thịt cũng như da. 6 Các sợi lông cứng của chúng còn được sử dụng để làm một số loại bàn chải, da có thể dùng để sản xuất bóng bầu dục. Ngoài ra, phân của lợn nhà cũng được dùng làm phân chuồng để cải tạo đất [7].
Ý nghĩa, vai trò của việc phát triển chăn nuôi lợn. Lợn là vật nuôi ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hoá của con người. Các sản phẩm thịt lợn từ từ xưa tới nay được tiêu dùng ở khắp các nước, nó được nuôi rộng khắp ở hầu hết các nước trên thế giới. Đối với nước ta lợn không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước.
Lợn được nuôi ở hẩu hết mọi miền của nước ta ở mọi địa hình mọi khí hậu lợn đều có thể thích nghi và phát triển được nên việc nuôi lợn rất dễ dàng. lợn chính là nguồn thực phẩm thiết yếu trong mỗi bữa ăn của mọi gia đình và cũng chính là nguồn nguyên liệu chính cho cá món ăn dân tộc của người dân Việt Nam. Việc nuôi lợn thịt cũng đem lại lợi nhuận, giải quyết lao động lúc nông nhàn, phân của lợn còn có thể tận dụng làm bioga, cải tạo đất đai. Như vậy, phát triển chăn nuôi lợn đã và đang tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống ở khu vực nông thôn.
Nó góp phần vào việc thúc đẩy nhanh hơn công cuộc CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, giảm bớt chênh lệch về kinh tế xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng núi và đồng bằng [3]. Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của chăn nuôi giống lợn đen Các giống lợn đen không chỉ phản ánh khả năng di truyền của giống mà còn gián tiếp biểu hiện tập quán sản xuất của địa phương. Chúng có những ưu điểm sau: - Khả năng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái môi trường khắc nghiệt. 7 - Khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô nghèo dinh dưỡng và phù hợp với điều kiện chăm sóc của người dân địa phương.
- Khả năng chống chịu bệnh tốt. - Chi phí đầu tư thấp. - Chất lượng thịt thơm ngon. * Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên Đối với ngành chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn đen chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên, khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm) có tác động trực tiếp và gián tiếp tới vật nuôi,.
* Nhóm nhân tố về kỹ thuật Giống: Cũng như rất nhiều ngành chăn nuôi khác, trong chăn nuôi lợn đen con giống được coi là điều kiện tiên quyết để phát triển. Con giống có chất lượng tốt sẽ đảm bảo cho phát triển của lợn sau này. Thức ăn: Có ý nghĩa rất quan trọng đến sự sinh trưởng của lợn, chiếm 60 – 70% giá thành sản phẩm. Thức ăn không chỉ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của lợn mà còn ảnh hưởng đến chất lượng thịt lợn.
Phương thức nuôi: Phương thức nuôi có liên quan chặt chẽ đến chế độ dinh dưỡng, do vậy sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của vật nuôi. Chế độ nuôi thâm canh với khẩu phần giàu năng lượng hoặc nuôi nhốt dẫn đến lợn phát triển nhanh nhưng tăng tích luỹ mỡ. Ngược lại với chế độ nuôi bán thả với thức ăn giàu xơ, lợn sẽ phát triển chậm hơn so với phương thức nuôi thâm canh nhưng tỉ lệ nạc nhiều hơn. * Nhóm nhân tố kinh tế xã hội Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế xã hội.
Đây là khâu then chốt của sản xuất hàng hóa, thị trường chính là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Ngày nay, khi đời sống kinh tế xã hội phát triển thì nhu cầu 8 của người tiêu dùng ngày càng cao đòi hỏi thị trường phải cung cấp sản phẩm thịt lợn có chất lượng cao. Vốn sản xuất: Là điều kiện quyết định đến hành vi chăn nuôi của người dân. Vốn được sử dụng để xây chuồng trại, mua con giống, đầu tư cho chăn nuôi, mở rộng quy mô,… Mặc dù vốn đầu tư ban đầu cho chăn nuôi lợn đen tương đối thấp song do thời gian sinh trưởng và đặc điểm ngoại hình của lợn đen mà người dân vẫn chưa mạnh dạn đầu tư.
Lao động: Chăn nuôi lợn đen đã có từ lâu nên người dân tích lũy được nhiều kinh nghiệm, mặt khác để nuôi lợn đen không cần dùng kỹ thuật cao nên có thể tận dụng mọi lao động trong gia đình kể cả lao động ngoài độ tuổi. * Nhóm nhân tố các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường, sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là hết sức quan trọng. Nó có thể khuyến khích sự phát triển của một ngành sản xuất nào đó hoặc ngược lại, kìm hãm sự phát triển của ngành đó. Chăn nuôi lợn đen đã có nhiều chuyển biến song vẫn rất cần sự can thiệp của Nhà nước theo hướng thúc đẩy phát triển.
* Nhóm nhân tố tổ chức sản xuất Lựa chọn một hình thức tổ chức hợp lý sẽ tạo thế mạnh cho phát triển chăn nuôi. Trước kia, nước ta chỉ có hai hình thức sản xuất được tổ chức chủ yếu đó là quốc doanh và tập thể. Chăn nuôi trong nông hộ chỉ được coi là sản xuất phụ, không được chú ý đầu tư thậm chí còn bị kìm hãm. Đến năm 1986, hộ gia đình được khẳng định như là một đơn vị kinh tế tự chủ, có điều kiện phát huy thế mạnh của mình nhằm khai thác triệt để các tiềm năng về đất đai, lao động, tiền vốn, tạo cho nông nghiệp nước ta một bước tiến vượt bậc.
Chăn nuôi nước ta hiện nay chỉ còn hai hình thức chăn nuôi cơ bản là quốc doanh và hộ gia đình, song chăn nuôi các nông hộ đã thực sự làm thay đổi về cơ cấu sản phẩm nông nghiệp lên một cách rõ rệt. Cơ sở thực tiễn 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lợn trên thế giới Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm. Cách đây một vạn năm chăn nuôi lợn đã xuất hiện và phát triển ở châu Âu và Á.
Sau đó, khoảng thế kỷ XVI, bắt đầu phát triển ở châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển ở châu Úc. Đến nay, nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia. Ở nhiều nước, chăn nuôi lợn có công nghệ cao và có tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Xing- ga-pho, ĐàiLoan,… Nói chung ở các nước tiên tiến có chăn nuôi lợn phát triển lợn theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao [6]. Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bố không đồng đều ở các châu lục.
Có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và châu Âu, khoảng 30% ở các châu lục khác. Trong đó, tỷ lệ đàn lợn được nuôi nhiều ở các nước có chăn nuôi lợn tiên tiến. Nơi nào có nhu cầu thịt lợn cao, nơi đó nuôi nhiều lợn. Tính đến nay chăn nuôi lợn ở các nước châu Âu chiếm khoảng 52%, châu Á 30,4%, châu Úc 5,8%, châu Phi 3,2 %, châu Mỹ, 8,6 %.
Nhìn chung, sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ ở các các nước theo tín ngưỡng Hồi giáo). Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn thực phẩm tốt cho con người, không những thế nghề chăn nuôi lợn đã đem lại lợi nhuận không nhỏ cho nền kinh tế của các nước này. Trung Quốc là nước có sản lượng thịt lớn nhất thế giới 56200 nghìn tấn chiếm 50,09% sản lượng của toàn thế giới. Đứng sau Trung Quốc là Mỹ (8,74%).
Việt Nam cũng là nước có sản lượng thịt lợn cao trên thế giới đứng thứ 8 sau các nước Trung Quốc, Mỹ, Đức, Tây Ban Nha, Braxin, Canada, Nga (theo số liệu thống kê của FAO). Năm 2010, sản lượng thịt lợn của Việt Nam đạt khoảng 3197 nghìn tấn, và sẽ tăng 2,06% trong năm 2011 [4]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lợn tại Việt Nam năm 2013 Theo Cục Chăn nuôi, tổng đàn lợn của cả nước hiện có gần 30 triệu con, với tốc độ tăng trưởng bình quân 1,8%/năm. Bên cạnh chăn nuôi hộ gia đình với quy mô nhỏ, chăn nuôi lợn theo hình thức trang trại, công nghiệp đang phát triển ở hầu khắp các địa phương.