mở đầu cho sự hình thành một số chuyên ngành khoa học chăng hạn, nhà bác học Mỹ N.Vinôngơ với tác phẩm “ Điều khiển học” (1948); cuốn “ Lý thuyết toán học của quá trình thông tin” của C. Bắt đầu từ đây, việc nghiên cứu giao tiếp chịu ảnh hưởng thêm của điều khién học, lý thuyết thông tin và lý thuyết hệ thống. Ở Liên Xô (cũ), ngay từ những năm 20-30 của đầu thế ky XX dựa trên cơ sở của triết học Mác xít, giao tiép đã được xem xét dưới góc độ tâm lý hoc với các nhà tâm lý học nổi tiếng như L. Nhưng phải mãi tới những năm 70 của thế kỷ XX, giao tiếp mới thực sự nổi lên thành một vấn đề lớn và được nhiều nha tâm lý học Xô Viết nghiên cứu, bản luận một cách sâu sắc.
Họ đã tổ chức ba hội nghị bản về giao tiếp được tô chức vào tháng 3/1970; 3/1973; 5/1973. Các hội nghị này bàn về một loạt các van dé giao tiếp như: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu giao tiếp. - Các phương pháp và các công cụ nghiên cứu giao tiếp. - Cơ chế giao tiếp.
- Ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân đối với quá trình giao tiếp. - Mô hình hoá quá trình giao tiếp. - Giao tiếp và lãnh đạo. - Giao tiếp trong quần chúng.
- Sự ảnh hưởng và phạm vi loại hình giao tiếp. Sau các hội nghị này, hàng loạt các công trình nghiên cứu về giao tiếp ra đời, trong đó phải đặc biệt kế đến: A.Lêônchiep với công trình “Tam ý học giao tiếp” (1974) và “Giao tiếp sư phạm” (1979); LL.Kalaminxki với cuốn “Tâm lý học về các mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ ”; B.Lômov với tác phâm “Giao tiếp là van dé của Tâm lý học”(1981); Sôlôkhôva có tác pham “Những trở ngại tâm lý trong giao tiếp giữa các nhân cách ”(1985 ). Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng các nhà tâm lý học đều đi đến thống nhất một nhận định: Giao tiếp có vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển nhân cách của cá nhân và của xã hội loài người. Các công trình nghiên cứu giao tiếp không chỉ dừng lại ở những nghiên cứu lý luận chung mà còn đi sâu vào nghiên cứu giao tiếp theo đặc trưng nghề nghiệp, lứa tuổi.
dé ứng dụng vảo thực tiễn cuộc sống. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp cũng chỉ được các nhà nghiên cứu chú ý bat đầu từ cuối những năm 70. Nghiên cứu giao tiếp phát triển mạnh mẽ và đi theo nhiều xu hướng khác nhau, bao gồm cả những công trình nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn. Một số công trình của các tác giả như: PGS Tran Trọng Thuỷ: “Giao tiếp — Tâm lý — Nhân cach” (1981); “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên ” (1985); Ngô Công Hoàn “Giao tiếp sư phạm ”(1992); Bùi Văn Huệ với “Ban về phạm trù giao tiếp ”.
10 Một số công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh, sinh viên và các báo cáo khoa học về giao tiếp, kĩ năng giao tiếp như: luận án PTS tâm lý học Nguyễn Thanh Bình (1996), Nghiên cứu một số trở ngại trong giao tiếp của sinh viên với học sinh thực tập tốt nghiệp(Nguyễn Thanh Bình (1996), ĐHQG ; Luận án TS tâm lý học “Van dé giao tiếp của bác sỹ quân y với người bệnh trong quá trình khám và chữa bệnh” (Nguyễn Thị Thanh Hà, 2000, Học viện chính trị Quân Sự). Từ những công trình đã dẫn ra ở trên, có thê thây rằng vấn đề giao tiếp được rất nhiều tác giả ở trong nước và ở nước ngoài quan tâm. Tuy nhiên việc nghiên cứu giao tiếp trong một loại hình hoạt động cụ thê như giao tiếp của giáo viên tiểu học với cha mẹ học sinh cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết; nó giúp ích cho giáo viên tiêu hoc năm được tốt hơn đặc điểm, tam lý của từng học sinh, thông qua các bậc CMHS dé có những giải pháp day học, giáo dục thích hợp đối với từng trường hợp cụ thể.
Một số vấn đề lý luận về giao tiếp và giao tiếp sư phạm 1. Các định nghĩa về giao tiếp: Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý phức tạp bao gồm nhiều mặt, nhiều cấp độ khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp. Mỗi định nghĩa đều được dựa trên một quan điểm riêng và có hạt nhân hợp lí của nó: Tác giả Ngô Công Hoàn đã coi giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp.
+Pham Minh Hạc định nghĩa: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người đề hiện thực hoá các quan hệ xã hội ” [12, tr. +Tac giả Hoang Anh trong luận án của minh có viết: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý, tạo nên quan hệ giữa hai người hoặc nhiêu người với nhau, 11 chứa đựng một nội dung xã hội — lịch sử nhất định, có nhiều chức năng: tác động, ho trợ cùng nhau, thông báo, điều khiển, nhận thức, hành động và tình cảm. nhằm thực hiện mục đích nhất định của một hoạt động nhất định [2, tr. + Nguyễn Quang Uan định nghĩa: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc tri giác lan nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau hay nói khác di giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác [30, tr.A Leonchiev đưa ra định nghĩa : Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù , mà trước hết là ngôn ngữ.
Giao tiếp được biểu hiện như là hình thức đặc biệt của hoạt động con người, giao tiếp và hoạt động là hai mặt của sự tồn tại con người. Hoạt động diễn ra trên nền của giao tiếp và giao tiếp thực hiện một hoạt động nhất định. + Parghin định nghĩa: Giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đôi cảm xúc lẫn nhau. Tóm lại, hiện nay còn tồn tại rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp, điều đó chứng tỏ giao tiếp là một hiện tượng phức tạp.
Các tác giả có thê trình bảy theo các cách không giống nhau, với việc sử dụng từ ngữ khác nhau, nhưng qua các ý kiến của các tác giả, chúng ta thấy khái niệm giao tiếp bao hàm các nội dung sau: - Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù chỉ có ở con người, trong đó diễn ra sự tiếp xúc tâm lý (trao đổi thông tin, tinh cảm, tác động ảnh hưởng lẫn nhau) giữa chủ thé và chủ thé. Mỗi người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình đó. 12 - Trong giao tiếp, con người ý thức được mục đích, nội dung cần đạt được và ý thức được các phương tiện (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ) cần sử dụng khi tiếp xúc với người khác. - Kết quả của giao tiếp có thé là sự hiéu biết lẫn nhau, sự thong nhất với nhau về tư tưởng, tình cảm, ý chí, hành động giữa các cá nhân, nhờ đó mà hình thành và vận hành các mối quan hệ xã hội của con người.
- Giao tiếp mang tính xã hội -lịch sử, giao tiếp chịu sự chi phối của các điều kiện xã hội, các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá của xã hội. Dựa trên những luận điểm trên và căn cứ vào tính đặc thù trong giao tiếp của giao viên tiểu học với cha mẹ học sinh và mục đích nghiên cứu của mình, trong đề tài này chúng tôi tán thành khái niệm giao tiếp của tác giả Nguyễn Quang Uan và nhấn mạnh: Giao tiếp là mối quan hệ giữa con người với con người thể hiện sự tiếp xúc tâm bp giữa người và người thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, trì giác lẫn nhau, ảnh hướng tac động qua lại với nhau. Vai trò của giao tiếp: Có thê nói giao tiếp là một nhu cầu không thê thiếu đối với mỗi cá nhân và xã hội loài người bởi vì con người tồn tai trong xã hội không phải với tư cách một cá nhân riêng lẻ mà luôn có mối quan hệ với người khác,do vậy phải có sự trao đôi thông tin, tình cảm, hiểu biết lẫn nhau. Đây là một trong những nhu cầu tinh thần hết sức quan trọng đối với sự phát triển của con người.
Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, con người sẽ bị đói giao tiếp, dé mắc một số bệnh về tâm lý. Nhờ có giao tiếp mà cá nhân tham gia vào các mỗi quan hệ xã hội trong đó cá nhân không chỉ nhận thức các quan hệ xã hội, nhận thức các cá nhân khác trong nhóm mà còn nhận thức chính bản thân mình bằng cách đối chiếu, so sánh bản thân mình với người khác, với chuân mực chung của xã hội. Các yếu to tham gia vào quá trình giao tiếp Theo “Giáo trình tâm lý học xã hội”, PGS.TS Trần Thị Minh Đức chủ biên thì có bây yếu tô tham gia vào quá trình giao tiếp. Chúng tôi điểm qua va chỉ đi sâu vào nội dung giao tiếp.
* Chủ thể giao tiếp Là con người cụ thé tham gia vào quá trình giao tiếp: một người hay nhiều người - đó là ai - với những đặc điểm sinh lý, tâm lý và xã hội ra sao? Tri thức và trình độ hiểu biết. như thế nào? Tắt cả các đặc điểm của chủ thể giao tiếp đều ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp. Giao tiếp người - người thì cả hai đều là chủ thể giao tiếp và đều là đối tượng giao tiếp, vai trò này được chuyển đổi linh hoạt thường xuyên trong quá trình giao tiếp. Họ không chỉ là người nói và người nghe vì mọi giác quan đều tham gia vào quá trình này, từ dáng điệu, cử chỉ, ánh mắt, vẻ mặt, thậm chí cả mùi nước hoa.
* Mục dich giao tiếp Nhằm thoả mãn nhu cầu nao - nhu cầu trao đồi thông tin, nhu cầu chia sẻ tình cảm, nhu cầu tiếp xúc giải trí, nhu cầu được khăng định trước người khác.