mở đầu thư phải phù hợp với mối quan hệ và thé hiện được sự tôn trọng của người gửi đối với người nhận. Ví dụ: Kính gửi thầy! Kính chào các đồng nghiệp! + Nội dung thư. Nội dung thư phải ngắn gọn và rõ ràng. Nếu có nhiều hơn một van dé thì nên cách dòng mỗi vấn dé và đánh số thứ tự để giúp người nhận dễ theo dõi và thích đọc thư.
Trong trường hợp chủ đề phức tạp, nội dung dài thì nên dùng tệp đính kèm. + Kết thúc thự. Kết thúc thư bằng lời chào. Lời chào cuối thư phải thể hiện được sự tôn trọng và phù hợp với lời chào đầu thư.
Ví dụ: Kính chào thầy và chúc thầy sức khỏe! + Họ tên, chức vụ, địa chỉ, số điện thoại của người gửi. Những thông tin này được đưa vào dưới lời chào kết thúc thư làm cho thư thêm phần trang trọng, thể hiện được tính công việc, nghiêm túc. - Không viết tắt. Viết tắt có thể làm cho người nhận phân vân hoặc hiểu nhằm trong khi yêu cầu đối với email phải đơn giản, rõ ràng, dé hiểu.
Cho nên trong nội dung email không nên viết tắt, trừ tên cơ quan hay cụm từ nào đó mà chắc chắn răng người nhận dé dàng hiểu cum từ đó. - Kiểm tra lỗi chính tả và hành văn. Nên dùng từ có dẫu và kiểm tra lỗi chính tả để đảm bảo nội dung email được hiểu đúng. - Không gửi thư trong tâm trạng bực bội.
Vì trong khi bực bội, tức giận, chúng ta dễ dùng những từ không nên dùng và đưa ra những quyết định thiếu khôn ngoan. Lí luận về các yếu tố ảnh hướng đến kĩ năng giao tiếp 1. Năng lực giao tiếp của cán bộ và giảng viên Năng lực giao tiếp là tổng hợp các thuộc tính tâm lý cần thiết của người giảng viên, nhằm đảm bảo kết quả cao trong hoạt động dạy học và giáo dục. Đó là năng lực nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của người học.
Đồng thời biết sử dụng hợp lý những phương tiện giao tiếp ngôn I8 ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức hợp lý quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích giáo dục. Năng lực giao tiếp được thể hiện ở các kỹ năng cơ bản sau: Kỹ năng định hướng giao tiếp; kỹ năng định vị; kỹ năng làm chủ trạng thái cảm xúc; kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp. Nhận thức về tam quan trong của kỹ năng giao tiếp Nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp trong nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn đến định hướng và quan điểm ứng xử của mỗi cán bộ, giảng viên. Khi họ nhận thức được ý nghĩa của kỹ năng giao tiếp, thì họ sẽ có động lực để rèn luyện và nâng cao nó.
Sự nhận thức được về tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp trong nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn đến thái độ, hành động giao tiếp cua giảng viên. Từ sự nhận thức này, giảng viên thực hiên hoạt động giảng dạy có hiệu quả; xây dựng được nhiều mối quan hệ tốt; tự tin khi giao tiếp; tự hoàn thiện nhân cách; do đó cũng có thêm cơ hội thăng tiến. Nhu cầu và động cơ giao tiếp Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu xã hội đầu tiên và cơ bản nhất của con người. Giao tiếp là một trong những điều kiện quan trọng nhất dé con ngươi trở thành con người xã hội và là điều kiện để xã hội tồn tại và phát triển.
Nhu cầu giao tiếp của giảng viên có tác dụng khơi dậy tính tích cực nghề nghiệp và thiết lập các mối quan hệ khác trong xã hội. Từ đó giảng viên sẽ có hứng thú, luôn biết tạo ra những cảm xúc tích cực, tìm tòi, sáng tạo trong giao tiếp để thỏa mãn nhu cầu. Sự ảnh hưởng của nhu cầu giao tiếp đến kỹ năng giao tiếp của giảng viên được biểu hiện cụ thể như: mong muốn được tiếp xúc với sinh viên, với dong nghiệp; say mê với hoạt động giảng dạy: giảng bài, thảo luận, dua đoàn sinh viên di thục tập.,luôn có hứng thủ giao tiép; biét tạo ra cảm xúc tích cực khi giao tiếp; luôn sáng tạo chủ động trong giao tiếp. Động cơ giao tiếp là cái thúc day hành động giao tiếp, gắn lièn với việc thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của chủ thé, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định xu hướng của nó.
Ngoài ra có thể hiểu động cơ giao tiếp chính là nguyên nhân, cơ sở của sự lụa chon các hành động và hành vi giao tiếp của con người. Động cơ giao tiếp của giảng viên thường gắn với nhu cầu va hứng thú giao tiếp (chăng hạn như: hứng thú giảng bài, hứng thú trao đổi, tranh luận với 19 sinh viên về tình huống thực hiện pháp luật. Từ sự cụ thể hóa nhu cầu, hứng thú này ›ẽ hình thành nên động cơ giao tiếp và quy định tinh chất, chiều hướng của hoại động giao lưu ứng xử của giảng viên. Các động cơ này mỗi khi trở nên cấp thiết đối với mỗi người giảng viên thông qua quá trình nội tâm hóa, sẽ thực hiệ› chức năng thiết lập ý nghĩa,tức là tạo cho cái hiện thực của phản ánh trong ý thức của mỗi người một ý cá nhân.
Trong hoạt động cụ thể , ở mỗi giảng viên có những động lực thôi thúc khiến họ ý thức về bản thân và nhận thức rõ mục tiêu để vươn tới. Trong một phạm vi nhất định, nếu giảng viên không co động lực thúc day để thỏa mãn nhu cầu thi họ chưa ý thức được bản thân phải làm gì để rèn luyện và nâng cao ký năng giao tiếp khi tiếp xúc với sinh viên. Còn khi giảng viên nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, vai trò và mức độ ảnh hưởng của kỹ năng giao tiếp đối với kết quả công việc của họ, thì họ sẽ có động lực thôi thúc, cố gắng học hỏi, tích lũy kinh nghiệm để thực hiện thành thạo kỹ năng giao tiếp. Trong hoạt động của giảng viên , một số biểu hiện cụ thể của động cơ giao tiếp có ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của họ là : Giao tiếp với sinh viên vì uy tín và thương hiệu của trường; đạt được mục đích khi giao tiếp; mang lại lợi ich cho bản thân,cho nhà trường và cho sinh viên; tích lũy thêm vốn kinh nghiệm trong giao tiếp; khẳng định bản thân; muốn trở thành giảng viên giỏi.
Ý thức học hỏi, rèn luyện kỹ năng giao tiếp Ý thức đảm bảo cho hoạt động của con người có mục đích và thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình nhằm đạt mục đích đề ra. Ý thức còn là sự tích lũy và sử dụng thông tin xung quanh về bản thân con người để giải quyết các van dé của cuộc sống. Trước hết, cán bộ, giảng viên tự hình thành và tích lũy tri thức, kinh nghiệm giao tiếp. Họ tự nhận thức, đánh giá bản thân thấy thực sự cần thiết, có mong muốn, có nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, động cơ thôi thúc bù đắp những thiếu hụt về kỹ năng giao tiếp.
Giảng viên có ý thức rèn luyện kỹ năng giao tiếp khi họ cho rằng, kỹ năng giao tiếp đã mang lại hiệu quả cho hoạt động nghề nghiệp của họ. Một số biểu hiện cụ thể của ý thức rèn luyện kỹ năng giao tiếp của giảng viên có ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của họ là: mong muốn được bù dap những thiêu hụt về kiên thức giao tiép; mong muon nhà trường có những 20 giải pháp tốt dé giảng viên thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về giao tiếp; luôn sẵn sàng tâm thé hoàn thiện, nâng cao kỹ năng giao tiếp; lắng nghe sự góp ý cua sinh viên va đông nghiệp, lĩnh hội trau doi kiến thức, kinh nghiệm về kỹ năng giao tiếp. Môi trường làm việc Giao tiếp sư phạm mang tính công việc giữa cán bộ, giảng viên với sinh viên, nó diễn ra thường xuyên, liên tục và hệ thống từ trên giảng đường đến hoạt động ngoại khóa ngoài giờ lên lớp, từ hoạt động học tập đến nghiên cứu khoa học, từ giao tiếp chính thức đến giao tiếp không chính thức. Công việc quá tải, lại rất nhạy cảm làm cho giảng viên ít chuyên tâm vào việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp.
Mặt khác, giảng viên lại phải tham gia giảng dạy các lớp vừa học vừa làm ở các tỉnh xa, tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học.những công việc đó lay đi của ho không it thời gian và năng lương làm việc. Thực tế này làm cho không ít giảng viên luôn trong trạng thái căng thắng, mệt mỏi trong công việc thường ngày. Ngoài việc giảng dạy trên lớp, nhiều giảng viên tránh tiếp xúc ngoài giờ với sinh viên, khi sinh viên gửi email, hoặc hỏi tư vấn nhiều giảng viên trả lời qua loa thậm trí không trả lời. Do đó nếu giảng viên vì áp lực công việc mà thiếu rèn luyện kỹ năng giao tiếp thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động sư phạm của họ.
Tổng thuật kết quả nghiên cứu thực trạng kĩ năng giao tiếp của cán bộ, giảng viên ĐH Luật Hà Nội với sinh viên Dữ liệu thu được từ phương pháp điều tra bảng hỏi được xử lí bằng phần mềm SPSS phiên bản 16. Kết qua chúng tôi thu được tần suất, ty lệ phần trăm độ lệch chuẩn của từng câu, nhóm câu và toàn bộ thang đo. Việc phân tích các số liệu này cho phép rút ra những kết luận về kĩ năng giao tiếp với sinh viên của cán bộ và giảng viên Trường DH Luật Hà Nội. Theo điểm trung bình chung (TB) của thang đo, chúng tôi xác định 4 mức độ kĩ năng: 1.
Kĩnăng thấp: TB chung từ 1. Kĩnăng trung bình: TB từ trên 2.0 — kĩ năng chưa tốt, chưa đáp ứng yêu cau, đặc biệt với một lĩnh vực như giáo dục - thiếu kĩ năng Go. Kĩnăng kha: TB từ trên 3.0 — thành thạo, có kĩ năng, thao tác dễ. Kĩ năng cao: TB từ trên 4.0 — thành thạo cao, điêu luyện, thực hiện thao tác dễ dàng, chính xác và hiệu quả.
Thực trạng chung về các kĩ năng giao tiếp 2. Tự đánh giá của giảng viên về kĩ năng giao tiếp của bản thân Số liệu thu được từ bảng hỏi giảng viên sau khi xử lí được trình bày ở bang I. Bảng này cho thấy: Bảng 1: Tự đánh giá của giảng viên về các kĩ năng giao tiếp (N=126) TT Kĩ năng TB am hiểu | TBthanh | TBchung | Thứ hạng - thạo (TH) chung 1 | Sử dụng phương tiện giao tiép 3.89 4 2 | Xây dựng hình ảnh về bản thân 4.