mở đầu tác phẩm. Trong đó, Bác nhấn mạnh giữ chủ nghĩa cho vững và ít lòng tham hướng về vật chất thì mới đủ bản lĩnh để đưa sự nghiệp cách mạng toàn thắng. Và sau này, Bác bàn luận về đức và tài rõ rệt hơn. Có khi Bác dùng là “chính trị” – là linh hồn và “chuyên môn” – là thể xác, hay là “hồng” và “chuyên”.
Ở đây, Bác muốn nói chính trị là linh hồn, chuyên môn là thể xác, thiếu một trong hai yếu tố đó con người sẽ không có sự sống. Suốt quá trình hoạt động cách mạng, Bác Hồ rất xem trọng, quan tâm đến phẩm chất – năng lực của người cán bộ. Người cho 16 rằng, đối với người cán bộ cách mạng, hai mặt “đức” và “tài” – phẩm chất và năng lực không thể xem nhẹ mặt nào, cũng không thể thiếu mặt nào. Do đó, từ rất sớm Người đã dày công vun đắp để đào tạo cho Ðảng, cho đất nước một đội ngũ cán bộ vừa có đức, vừa có tài, vừa hồng lại vừa chuyên.
Như vậy hai mặt “đức và tài” là phẩm chất, năng lực của mỗi con người cần có để hoạt động xã hội, đây là những yếu tố không thể thiếu trong quá trình hoàn thiện nhân cách con người. Vấn đề giáo dục “đức” kết hợp với “tài” từ lâu đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm nghiên cứu và triển khai trong công tác đào tạo cán bộ, giáo dục quần chúng nhân dân. Sinh thời, Người bàn nhiều về rèn luyện đạo đức và tài của người cán bộ, đảng viên, công an, giáo viên, và thanh niên – những chủ nhân tương lai của đất nước Trong xã hội khoa học kỹ thuật phát triển như ngày nay, càng có những yêu cầu nhất định về phẩm chất đạo đức và năng lực của con người. Có thể thấy giáo dục đức và tài cho sinh viên – những thế hệ tương lai của đất nước là một phần rất quan trọng trong nội dung giáo dục và đào tạo nói chung, trong công tác học tập, rèn luyện theo tác phong, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói riêng.
Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài Hồ Chí Minh là nhà cách mạng gắn liền với thực tiễn, mục tiêu lớn nhất của Người là độc lập – tự do – hạnh phúc cho nhân dân, cho nên từ sớm, Người đã đặt câu hỏi “cách mạng trước hết phải có cái gì?” và Người thấy phải có một tổ chức cách mạng gồm những con người “tài – đức” tiêu biểu dẫn dắt cách mạng đi đến thành công. Cho nên, vấn đề đạo đức cách mạng đã hình thành rất sớm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trở thành bộ phận quan trọng, cốt lõi trong tư tưởng của Người. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về “đức và tài” cũng chính là các yếu tố chi phối sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Thứ nhất, tiếp thu văn hóa phương Đông: Đó là sự kế thừa truyền thống đạo đức phương Đông như Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo,…Chủ tịch Hồ Chi Minh đã sử dụng nhiều phạm trù, khái niệm đạo đức đã xuất hiện lâu trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đầu tiên là Nho giáo.
Bác đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra nó – Khổng Tử, đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực trong tư tưởng Nho giáo. Nhưng như vậy không có nghĩa là đồng nhất tư tưởng đạo đức trong Nho giáo với tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Những phạm trù, khái niệm này đã được Hồ Chí Minh nâng lên một tầm cao mới với nội dung mới; đó là đạo đức của người cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc, giải phóng con người, chống mọi áp bức bóc lột, xây dụmg xã hội mới tốt đẹp hơn,.Những tiêu chuẩn của đạo đức Nho giáo như: “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, học đi đôi với hành,.” được Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng sáng tạo để xây dựng đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” cho đội ngũ cán bộ, công chức và quần chúng nhân dân. Người khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và cùng cố.
Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 11, tr. Người cũng đã kế thừa một cách sáng tạo những tư tưởng như: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, “Tu thân, tề gia, trị quốc, binh thiên hạ”, “giáo dục làm gương”, “đào tạo con người có đạo đức cho xã hội”,. những tư tưởng đó được Hồ Chi Minh phát triển thành tư tưởng “lấy dân làm gốc”, “dân là vốn quý nhất”, “đạo đức là cái gốc, là phẩm chất quan trọng nhất” của người cách mạng, của quần chúng nhân dân. Nếu như Nho giáo hạ thấp vai trò của phụ nữ, đặt ra những quy định hà khắc đối với họ, thì Hồ Chí Minh phê phán những quan điểm ấy, khôi phục lại vị trí, vai 18 trò của phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng giữa nam – nữ trong xã hội.
Người viết: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 12, tr. Có thể thấy, những tư tưởng này của Người mang đậm tính nhân văn, nhân đạo. Hồ Chí Minh còn kế thừa những tư tưởng của Phật giáo về giáo hóa con người.
Nếu như Phật giáo lấy lòng từ bị, vị tha giúp đỡ người khác, chăm làm việc thiện thì tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ tấm lòng khoan dung, độ lượng đổi với con người. Phật giáo chú ý đến số phận con người và vấn đề giải thoát cho con người khỏi bể khổ trần gian – siêu thoát. Thì Hồ Chí Minh quan tâm đến thân phận và nỗi khổ của con người, song khác với Phật giáo, Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguyên nhân gây ra nỗi khổ bên trong chính là bản thân con người. Thứ hai, tiếp xúc với nhiều tư tưởng tiến bộ ở phương Tây, chủ yếu là tư tưởng “nhân ái” thời kỳ phục hưng, tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp với khẩu hiệu: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” và những tư tưởng về dân quyền, dân ước, dân chủ, dân sinh.
Từ thời niên thiếu, Người đã tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây qua sách báo. Chính tư tưởng “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã thôi thúc Người hướng về phương Tây để xem xét, tìm con đường cứu nước cho dân tộc. Người bôn ba ở các châu lục như châu Á, châu Âu, châu Mỹ La tinh và châu Phi; một số nước tư bản như Mỹ, Anh, Pháp và các thuộc địa của chúng. Qua đó, Người đã rút ra được những nhận định hết sức sâu sắc, Người đọc Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ 1776 và đã nhắc lại: “Giời sinh ra, ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng.
Hể Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng thì dân chúng đập đồ Chính phủ ấy đi và gây nên Chính phủ khác.” 19 Người cũng phát hiện ra những mâu thuẫn đằng sau những từ hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng, nghèo đói của hàng triệu người lao động: đó là điều kiện sống khủng khiếp của người da đen, là nạn phân biệt chủng tộc ghê gớm. Người có ấn tượng khá sâu sắc với: chủ nghĩa nhân văn, tư tưởng tự do, tư tưởng bình đẳng của các đại văn hào nổi tiếng như Vôn – te, Đi – đơ – rô, Rút – xô, Mông – te – xki – ơ và đặc biệt ở bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp. Vì vậy, Người đã vận dụng, phát triển, sáng tạo những tư tưởng đạo đức tiến bộ đó phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và Người đã chỉ ra những hạn chế của các tư tưởng đó. Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh”, Người nhận xét về cuộc cách mạng Mỹ là cuộc cách mạng không triệt để, cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là cách mệnh chưa đến nơi” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 1, tr.
Người chỉ ra rằng: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã bốn lần rồi, mà nay công nông Pháp hằng còn mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”. Tư tưởng Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ sự tiếp thu tư tưởng “nhân ái” cao cả của đức chúa Giê – su, với nội dung chủ yếu là dạy con người có lòng bác ái, yêu thương người khác cũng như yêu thương chính bản thân mình; phải công bằng trong đối xử giữa người với nhau.
Người nói: “Đức Giê – su đã nói, ta phải yêu mến các kẻ thù của chúng ta” và kêu gọi “phải thực hành bác ái”. Với tinh thần ấy, Hồ Chí Minh cho rằng: “Trước lòng bác ái thì máu người Pháp hay máu người Việt cũng đều là máu, người Việt hay người Pháp cũng đều là người”. Cho nên, Nguời khẳng định: “Đức Giê – su hi sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hi sinh phấn dấu” (Hồ 20 Chí Minh, 2011, tập 4, tr. Hay nói khác đi, “phụng sự Thuợng đế” và “phụng sự Tổ quốc” là một, vi kính Chúa song hành với yêu nước đều hướng tới mục đích là tự do và hạnh phúc của nhân loại.
Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có cội nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử.