Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Thanh Chí được thực hiện dựa trên việc triển khai Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đưa nội dung này trở thành công việc tự giác trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ cùng tiến trình vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, thế hệ trẻ đứng trước nhiều cơ hội phát triển năng lực nhưng cũng bộc lộ những khoảng trống nhất định. Tác giả chỉ ra rằng một bộ phận thanh niên hiện nay còn thiếu hụt kiến thức lịch sử, văn hóa dân tộc, kỹ năng tư duy độc lập, trình độ ngoại ngữ, tin học cũng như tác phong lao động công nghiệp. Đáng chú ý, một bộ phận sinh viên sư phạm còn biểu hiện dao động lập trường chính trị, lệch lạc giá trị đạo đức, lối sống thực dụng, ích kỷ, chỉ tập trung vào chuyên môn nghiệp vụ mà chưa chú trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức.

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh với lịch sử hơn 40 năm xây dựng và phát triển gánh vác sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuẩn bị đội ngũ nhà giáo tương lai trực tiếp truyền thụ tri thức và lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ. Do đó, việc giáo dục nhận thức toàn diện về mối quan hệ giữa phẩm chất ("đức") và năng lực ("tài") theo tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là làm rõ mối quan hệ giữa “đức” và “tài” trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung giáo dục đức - tài cho sinh viên, phân tích thực trạng tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích mối liên hệ giữa “đức và tài” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của mối liên hệ đó.
  2. Khảo sát thực trạng giáo dục “đức và tài” cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
  3. Phân tích nguyên nhân và đưa ra giải pháp để giáo dục “đức và tài” theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác định rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giáo dục “đức và tài” cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc phân tích mối liên hệ giữa đức và tài theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian và nguồn số liệu: Số liệu thống kê sinh viên năm học 2020 – 2021 được cung cấp bởi Phòng Công tác Chính trị và Học sinh Sinh viên, Đoàn trường cùng kết quả khảo sát thực tế qua 175 phiếu thăm dò ý kiến sinh viên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp hệ thống khái niệm, phạm trù chuyên ngành Triết học và Hồ Chí Minh học. Tác giả khảo cứu toàn diện hệ thống các nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài:

  • Tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông: Kế thừa có chọn lọc các phạm trù Nho giáo (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, dân vi quý) và nâng lên thành chuẩn mực đạo đức cách mạng vì dân, vì nước; kế thừa tinh thần từ bi, vị tha, khoan dung và bác ái của Phật giáo.
  • Tiếp thu tư tưởng tiến bộ phương Tây: Tư tưởng nhân ái thời kỳ Phục hưng, quan điểm tự do - bình đẳng - bác ái của các nhà Khai sáng Pháp (Voltaire, Diderot, Rousseau, Montesquieu), Tuyên ngôn Độc lập Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp, cùng tinh thần bác ái, yêu thương con người của Cơ đốc giáo.
  • Kế thừa truyền thống dân tộc: Chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đại đoàn kết (bốn chữ "đồng": đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh), truyền thống trọng dụng nhân tài ("Hiền tài là nguyên khí quốc gia"), cùng ảnh hưởng từ truyền thống quê hương Nghệ An và gia đình mẫu mực của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.
  • Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin: Nền tảng đạo đức cộng sản, các luận điểm của V.I. Lênin về đào tạo cán bộ, chuyên gia và niềm tin sâu sắc vào sức mạnh sáng tạo của quần chúng nhân dân.
  • Năng lực tư duy và phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh: Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, khả năng phê phán tinh tường và tinh thần học hỏi không ngừng vì mục tiêu độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai gồm hai nhóm chính:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp logic – lịch sử, phân tích – tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa tư liệu lý luận.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra xã hội học (sử dụng phiếu thăm dò ý kiến sinh viên) và phương pháp thu thập, phân tích số liệu thống kê thực tế.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các tác phẩm trong Hồ Chí Minh Toàn tập (các tập 1, 3, 4, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 15), tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), bản Di chúc (1969), bài thơ Lịch sử nước ta (1942), các văn kiện Đảng, tài liệu tâm lý học nhân cách của Huỳnh Văn Sơn (2017), Báo cáo Tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm học 2020 – 2021, cùng số liệu khảo sát thực tế từ 175 sinh viên thuộc 4 khối ngành tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài

Chương 1 làm rõ các khái niệm cơ bản, nguồn gốc hình thành và ba nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài:

  1. Khái niệm "đức", "tài" và sự thống nhất đức - tài:

    • Về khái niệm "đức": Đại diện cho nhân phẩm, tư cách, tác phong, lòng nhiệt tình, hướng tới các giá trị chân – thiện – mỹ. Theo nghĩa tâm lý học và xã hội học, đạo đức là hệ thống quy tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ cá nhân, xã hội và tự nhiên. Đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh là sự cống hiến hết lòng vì lợi ích của Đảng, của dân tộc và nhân loại, không vụ lợi cá nhân.
    • Về khái niệm "tài": Biểu hiện ở năng lực, kiến thức, kỹ xảo, kinh nghiệm sống và khả năng giải quyết sáng tạo các tình huống phức tạp. Tài gồm hai cấp độ: năng lực (thuộc tính tâm lý đáp ứng hoạt động cụ thể) và tài năng (mức độ hoàn thành công việc nhanh chóng, sáng tạo, đạt thành tích cao). Năng lực cần quá trình bồi dưỡng, khổ luyện lâu dài.
    • Mối quan hệ giữa đức và tài: Đức và tài tương ứng với "chính trị" và "chuyên môn", "hồng" và "chuyên". Chính trị là linh hồn, chuyên môn là thể xác; thiếu một trong hai yếu tố thì con người không thể phát triển hoàn chỉnh.
  2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài: Phân tích chi tiết 4 nguồn gốc: tiếp thu văn hóa phương Đông và phương Tây; kế thừa truyền thống yêu nước, văn hóa của dân tộc và gia đình; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin; nhân tố chủ quan xuất phát từ trí tuệ và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh.

  3. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài:

    • Tài – đức hồng thắm, chuyên sâu: Người cán bộ cách mạng phải có phẩm chất chính trị kiên định, trung thành với Tổ quốc, thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, đồng thời phải am hiểu sâu sắc chuyên môn nghiệp vụ để tránh việc lãnh đạo chung chung.
    • Đức – tài là một thể thống nhất, không thể tách rời: Đức và tài có mối quan hệ biện chứng, là điều kiện và tiền đề của nhau. Luận điểm kinh điển của Hồ Chí Minh được trích dẫn: "Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó" và "Có tài phải có đức, có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nhà nước. Có đức không có tài, như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai".
    • Đức phải đặt lên hàng đầu, đức là gốc: Luận giải nguyên lý "đức là gốc" của người cách mạng: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân". Đồng thời, "đức là gốc" là nguyên tắc cốt tử trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, phòng chống chủ nghĩa cá nhân để giữ vững bản chất cách mạng của Đảng: "Đảng ta là đạo đức, là văn minh".

Chương 2: Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: Thực trạng và giải pháp

Chương 2 tập trung phân tích đặc điểm sinh viên sư phạm, phản ánh kết quả khảo sát thực trạng và đề xuất 4 nhóm giải pháp:

  1. Đặc điểm của sinh viên sư phạm: Sinh viên sư phạm thuộc độ tuổi 18–23, là đội ngũ dự bị trí thức tương lai, nhạy bén với các vấn đề chính trị – xã hội và có tâm lý trong sáng, cởi mở trước tri thức mới ("như tấm lụa trắng"). Tuy nhiên, do hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và sống xa gia đình, sinh viên dễ bị tác động bởi mặt trái kinh tế thị trường.

  2. Thực trạng giáo dục đức và tài tại trường: Tác giả tiến hành khảo sát 175 sinh viên thuộc 4 khối ngành của trường năm học 2020 – 2021. Kết quả chỉ ra:

    • 150/175 sinh viên (tỷ lệ 85,71%) bày tỏ sự yêu thích đối với ngành học đã chọn.
    • Về nhu cầu hỗ trợ trong quá trình học tập: hỗ trợ tìm việc làm chiếm 24,57%; học tập chiếm 22,86%; kinh tế chiếm 21,14%; nghiên cứu khoa học chiếm 17,14%; tham gia hoạt động xã hội chiếm 14,28%.
    • Về nhận thức tầm quan trọng của việc giáo dục đức – tài: 95/175 sinh viên (54,29%) đánh giá "Rất cần thiết"; 74/175 sinh viên (42,29%) đánh giá "Cần thiết"; chỉ có 6/175 sinh viên (3,43%) cho là "Không cần thiết".
    • Môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh được tổ chức giảng dạy cho sinh viên không chuyên vào học kỳ 3, góp phần định hình nhận thức và ý thức tu dưỡng của sinh viên.
  3. Hệ thống giải pháp giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài cho sinh viên:

    • Nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy và Ban Giám hiệu Nhà trường trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng.
    • Tăng cường và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên.
    • Đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng – chính trị gắn liền với nâng cao chất lượng hoạt động học tập, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
    • Phát huy tính chủ động, tinh thần tự giác của sinh viên trong việc tự bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa thực trạng nhận thức và nhu cầu của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thông qua các bảng thống kê số liệu cụ thể:

Khối ngành đào tạo Tổng số lượng (sinh viên) Các khóa lớp tham gia Số lượng sinh viên Nam
Khoa học tự nhiên 46 Năm I, II, III, IV 25
Khoa học xã hội 51 Năm I, II, III, IV 19
Khoa học giáo dục 33 Năm I, II, III, IV 15
Khoa học ngoại ngữ 45 Năm I, II, III, IV 11
Tổng cộng 175 Toàn khóa 70

Bảng 1: Cơ cấu mẫu đối tượng khảo sát theo khối ngành và giới tính

Mức độ đánh giá Tổng số sinh viên lựa chọn Tỷ lệ phần trăm (%)
Rất cần thiết 95 54,29 %
Cần thiết 74 42,29 %
Không cần thiết 6 3,43 %
Tổng số 175 100,00 %

Bảng 2: Đánh giá của sinh viên về tầm quan trọng của việc giáo dục "đức" và "tài"

Nội dung nhu cầu hỗ trợ Tỷ lệ sinh viên yêu cầu (%)
Hỗ trợ tìm kiếm việc làm 24,57 %
Hỗ trợ trong hoạt động học tập 22,86 %
Hỗ trợ về mặt kinh tế 21,14 %
Hỗ trợ nghiên cứu khoa học 17,14 %
Hỗ trợ tham gia hoạt động xã hội 14,28 %

Bảng 3: Nhu cầu hỗ trợ thực tiễn của sinh viên trong quá trình học tập tại trường

Đóng góp chính của đề tài:

  • Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở hình thành và nội dung bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài; phân tích sâu sắc tính biện chứng giữa hai yếu tố "hồng" và "chuyên", đồng thời làm sáng tỏ luận điểm "đức là gốc" trong bối cảnh phát triển giáo dục hiện đại.
  • Về mặt thực tiễn: Khóa luận phản ánh bức tranh thực tế về nhận thức của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đối với việc rèn luyện đức – tài (96,58% sinh viên đánh giá cần thiết và rất cần thiết); xác định các khó khăn và nhu cầu hỗ trợ trọng điểm của sinh viên.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tổng quan nghiên cứu chỉ ra rằng các đề tài trước đây chủ yếu tập trung vào giáo dục đạo đức chung hoặc áp dụng cho cán bộ quản lý, sĩ quan quân đội, kiểm sát viên hoặc sinh viên tại các trường kỹ thuật. Khóa luận này là công trình khảo cứu chuyên biệt về mối quan hệ giữa "đức" và "tài" trên đối tượng sinh viên sư phạm tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp gắn liền với đặc thù quản lý và đào tạo của nhà trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của đề tài được giới hạn trong mẫu 175 sinh viên thuộc 4 khối ngành tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong phạm vi năm học 2020 – 2021. Tỷ lệ cơ cấu giới tính trong mẫu khảo sát (70 nam / 105 nữ) chưa đạt mức cân bằng tuyệt đối do phản ánh đặc thù tuyển sinh của khối ngành sư phạm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên toàn thể các khoa đào tạo với cỡ mẫu lớn hơn; thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa sinh viên các trường đại học sư phạm ở các vùng miền khác nhau; hoặc nghiên cứu theo dõi sự biến đổi nhận thức đức – tài của sinh viên sư phạm từ giảng đường đến thực tế công tác giảng dạy sau tốt nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Thanh Chí cung cấp nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên ngành Giáo dục Chính trị, Triết học và Hồ Chí Minh học: Cung cấp nguồn ngữ liệu trích dẫn phong phú từ các tập trong Hồ Chí Minh Toàn tập, khung phân tích lý luận logic về nguồn gốc và nội dung đức – tài trong Chương 1 để phục vụ viết tiểu luận, khóa luận.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên và báo cáo viên lý luận chính trị: Tham khảo phương pháp lồng ghép giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vào chương trình đào tạo học kỳ 3 và các hoạt động ngoại khóa.
  • Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, Phòng Công tác Chính trị và Học sinh Sinh viên: Khai thác số liệu khảo sát về nhu cầu hỗ trợ (tìm việc làm, kinh tế, học tập, nghiên cứu khoa học) để xây dựng chương trình hỗ trợ sinh viên và đổi mới phong trào thi đua rèn luyện tư tưởng, đạo đức phù hợp với thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng mẫu khảo sát thực tiễn gồm bao nhiêu sinh viên và phân bổ theo các khối ngành như thế nào?
Khóa luận tiến hành khảo sát trên 175 sinh viên thuộc 4 khối ngành tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, phân bổ cụ thể: Khối Khoa học xã hội (51 sinh viên), Khối Khoa học tự nhiên (46 sinh viên), Khối Khoa học ngoại ngữ (45 sinh viên), và Khối Khoa học giáo dục (33 sinh viên), bao gồm sinh viên từ năm thứ I đến năm thứ IV.

2. Mức độ nhận thức của sinh viên về sự cần thiết của giáo dục đức và tài được ghi nhận với tỷ lệ ra sao?
Kết quả khảo sát tại Bảng 2 của khóa luận cho thấy có 95 sinh viên (54,29%) đánh giá "Rất cần thiết", 74 sinh viên (42,29%) đánh giá "Cần thiết", và chỉ có 6 sinh viên (3,43%) đánh giá "Không cần thiết". Tổng tỷ lệ đánh giá từ cần thiết đến rất cần thiết đạt 96,58%.

3. Khảo sát của đề tài ghi nhận sinh viên gặp khó khăn và cần hỗ trợ nhiều nhất ở những phương diện nào?
Nhu cầu hỗ trợ của sinh viên được ghi nhận theo thứ tự: hỗ trợ tìm việc làm chiếm tỷ lệ cao nhất (24,57%), tiếp theo là hỗ trợ học tập (22,86%), hỗ trợ kinh tế (21,14%), hỗ trợ nghiên cứu khoa học (17,14%), và hỗ trợ tham gia hoạt động xã hội (14,28%).

4. Môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh được bố trí giảng dạy vào thời điểm nào cho sinh viên không chuyên tại trường?
Theo nội dung trình bày ở Chương 2, môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh được thiết kế giảng dạy cho sinh viên không chuyên vào học kỳ 3 trong tiến trình đào tạo của nhà trường nhằm trang bị kiến thức cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

5. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nào để nâng cao chất lượng giáo dục đức và tài cho sinh viên?
Khóa luận xây dựng 4 nhóm giải pháp gồm: Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ủy và Ban Giám hiệu; Tăng cường và đổi mới phương thức hoạt động của tổ chức Đoàn – Hội; Đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng – chính trị gắn với hoạt động học tập; Phát huy tinh thần tự giác, tự bồi dưỡng đức – tài của chính sinh viên.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hồ Thanh Chí đã hệ thống hóa một cách khoa học cơ sở hình thành và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài, nhấn mạnh tính thống nhất biện chứng giữa phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn với nguyên lý "đức là gốc". Thông qua việc khảo sát thực nghiệm trên 175 sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đã làm rõ thực trạng nhận thức, tỷ lệ yêu thích ngành học và các nhu cầu hỗ trợ thực tiễn của người học trong năm học 2020 – 2021. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cả về phẩm chất và năng lực cho sinh viên sư phạm trong giai đoạn hiện nay.