Chương 1 “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục - Những nội dung cơ bản”; Chương 2 “Vấn đề đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay và yêu cầu phải vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”; Chương 3 “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. Trong chương 3, tác giả đã nêu ra phương hướng, nội dung và giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo Việt Nam hiện nay. Tác giả nêu ra bẩy giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục - đào tạo trong giai đoạn hiện nay, trong đó giải pháp thứ năm tác giả bàn đến nội dung vận tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng đội ngũ nhà giáo. Giáo dục bằng phương pháp lời nói phải đi đôi với việc làm, người nói phải gương mẫu khi làm, là một giải pháp thực hành giữa lý luận với thực tế, gắn liền với con người cụ thể mà ở đây là người thầy 18 trên bục giảng, người cán bộ lãnh đạo nói trước dân, vì vậy cũng có thể gọi là giải pháp nêu gương.
Đinh Thị Thúy Hải, trong bài Xây dựng đội ngũ nhà giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh [72], đã nêu lên hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà giáo gồm: vị trí, vai trò của nhà giáo; phẩm chất của nhà giáo về trí tuệ, đạo đức, chính trị, chuyên môn; xây dựng môi trường lành mạnh, đoàn kết, gắn bó để nâng cao chất lượng giáo dục. Tác giả nêu lên sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ nhà giáo. Theo tác giả, để khắc phục những hạn chế trong nền giáo dục nước ta hiện nay, chúng ta cần trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, với những luận điểm khoa học, thực tiễn về năng lực, phẩm chất của nhà giáo; về xây dựng đội ngũ những người làm công tác giáo dục; về xây dựng lòng yêu nghề, yêu người; về động lực phát triển của nền giáo dục., trong đó đặc biệt chú trọng việc xây dựng môi trường lành mạnh, dân chủ, đoàn kết để nâng cao chất lượng giáo dục. Điều này không những để khẳng định tri thức, trình độ phát triển giáo dục của dân tộc, mà còn góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc đổi mới giáo dục-đào tạo, hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước hôm nay.
Tác giả Nguyễn Thị Lan, trong bài Xây dựng đội ngũ nhà giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh [85] đã khái quát một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà giáo, khẳng định giá trị của những tư tưởng đó trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ nhà giáo của Đảng và Nhà nước ta từ Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (24-12-1996) đến Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (4-11-2013). Đặc biệt tác giả nhấn mạnh đến việc tu dưỡng, rèn luyện của mỗi nhà giáo trong giai đoạn hiện nay theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện đạo đức nhà giáo, tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, đoàn kết, tương trợ đồng nghiệp, tham gia các hoạt động xã hội, nhân đạo,… 19 Tác giả Trương Văn Tuấn, trong bài Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò người thầy vào việc bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo [180], khẳng định vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của người thầy vào việc xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo hiện nay là kế thừa, phát triển tư tưởng của Người trong thời kỳ mới. Người thầy là yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục, là tương lai của dân tộc. Tác giả nhấn mạnh đến việc bản thân người thầy phải nỗ lực tự xây dựng, tự đào tạo mình về các mặt: bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức; năng lực chuyên môn; tinh thần đoàn kết, hợp tác và tự nêu gương.
Nghiên cứu về xây dựng đội ngũ giảng viên 1. Nghiên cứu về xây dựng đội ngũ giảng viên ở nước ngoài Công trình Phẩm chất của những nhà giáo ưu tú [84] của Ken Bain (2008). Với phương pháp tiếp cận là phỏng vấn trực tiếp và điều tra bằng bảng hỏi đối với các giáo sư đại học có tên tuổi, tác giả đã trả lời câu hỏi phẩm chất của những nhà giáo ưu tú là gì. Nghiên cứu này luôn đặt phẩm chất của nhà giáo ưu tú trong mối quan hệ với công việc giảng dạy và sinh viên.
Theo Ken Bain, nhà giáo ưu tú có những phẩm chất sau: nắm vững lĩnh vực chuyên môn, bao gồm cả việc công bố những công trình khoa học (nhưng không nhất thiết phải có công trình khoa học); luôn có thái độ nghiêm túc, tận tâm trong công việc giảng dạy, bao gồm công việc trước (chuẩn bị), trong và sau khi giảng dạy; luôn khuyến khích, hỗ trợ, chân thành, cởi mở và tôn trọng sinh viên; đặc biệt họ không phải là không bao giờ có thiếu sót, tuy nhiên thái độ của họ là sẵn sàng đương đầu với những yếu kém và thất bại của mình, và không bao giờ đổ lỗi cho sinh viên của mình về bất kỳ những khó khăn nào mà họ gặp phải. Cách nhìn của tác giả về phẩm chất của nhà giáo ưu tú có thể gợi mở cho chúng ta trong việc xây dựng tiêu chuẩn về phẩm chất người giảng viên đại học hiện nay. 20 Bài báo “Sự trỗi dậy của các trường đại học Châu Á” (The Rise of Asia’s Universities) [120] của Richard C. Bài viết cung cấp một cái nhìn tổng thể về sự vươn lên của các đại học Châu Á trong những thập kỷ qua, lý giải tại sao, những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và triển vọng.
Tác giả khẳng định, mô hình đại học nghiên cứu được các quốc gia phát triển của Châu Á xem là yếu tố hàng đầu để thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao phẩm chất của tầng lớp lãnh đạo quốc gia. Đại học nghiên cứu, mà trọng tâm là nghiên cứu khoa học cơ bản, là điều kiện tiên quyết để kinh tế, có vị trí ưu việt trong sự cạnh tranh toàn cầu. Tác giả chỉ ra hai điều kiện tiên quyết để trường đại học vươn lên trở thành trường đại học đẳng cấp thế giới, đó là năng lực nghiên cứu mạnh và mô hình đào tạo tiên tiến. Muốn có năng lực nghiên cứu mạnh, trước hết và trên hết đòi hỏi trường đại học phải thu hút được các nhà khoa học giỏi về làm giảng viên.
Để làm được điều này, trường đại học phải có trang thiết bị nghiên cứu hiện đại nhất, có ngân sách thỏa đáng để hỗ trợ nghiên cứu và chi trả lương cũng như phúc lợi có tính cạnh tranh. Tác giả cũng chỉ ra những kinh nghiệm quí báu của các trường đại học Trung Quốc, Ấn Độ trong việc thu hút các nhà khoa học, học giả gốc Hoa, gốc Ấn từ nước ngoài về trong nước làm việc, xây dựng các trường đại học nghiên cứu mạnh. Công trình “Cuộc cạnh tranh chất xám vĩ đại” (The Great brain race) [11] của Ben Wildavsky. Công trình đã khái quát từ rất nhiều góc cạnh khác nhau, những thông tin tản mạn, thành một bức tranh tổng thể cuộc cạnh tranh toàn cầu nhằm thu hút tài năng trí tuệ từ mọi miền thế giới và sự chạy đua nâng cấp hệ thống giáo dục đại học thế giới.
Thông qua cuốn sách, Ben Wildavsky đã cho mọi người thấy toàn cầu hóa đang biến đổi nền giáo dục đại học thế giới như thế nào. Cạnh tranh kinh tế là động lực phát triển của giáo dục đại học thế giới. Cuộc chạy đua kinh tế thực chất là cuộc chạy đua khoa học công nghệ. Các đại học tạo ra tri thức và tinh hoa cho xã hội, do đó 21 sẽ ảnh hưởng quan trọng lên việc định hình thế giới trong thế kỷ XXI.
Cạnh tranh chất xám thực chất là cuộc cạnh tranh giữa các trường đại học để giữ chân và thu hút các nhà khoa học, các học giả giỏi nhất làm việc cho mình. Trong lĩnh vực này, tác giả đã nêu bật thành công của hai quốc gia châu Á có diện tích và số dân khiêm tốn: Hàn Quốc và Singapore. Họ có chung một tầm nhìn và giải pháp là: nâng trường đại học thành những trung tâm khoa học công nghệ trác việt để có sức cạnh tranh với thế giới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ chân sinh viên và thu hút chất xám quốc tế. Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ bắt buộc trong thế giới hàn lâm và kinh doanh.
Xây dựng hợp tác đối tác chiến lược với các đại học nước ngoài, phần lớn với Hoa Kỳ, và thuê các nhà khoa học, quản lý hàng đầu, “nhập khẩu” các giáo sư nước ngoài (đặc biệt là nhà khoa học có giải Nobel) đến giảng dạy và nghiên cứu, thường trên cơ sở bán thời gian. Công trình “Sự thay đổi nghề giảng dạy ở Châu Á: giảng dạy, nghiên cứu, quản trị và quản lý” (The Changing Academic Profession in Asia: Teaching, Research, Governance and Management) [119] của Viện nghiên cứu giáo dục đại học, Đại học Hiroshima, Nhật Bản. Công trình này là tập hợp các bài nghiên cứu về giáo dục đại học của các học giả Trung Quốc, Campuchia, Inđonesia, Nhật Bản, Malaixia, Đài Loan, Mỹ và Việt Nam. Thông qua các nghiên cứu từ nhiều quốc gia, các tác giả đã xác định đặc điểm nổi bật trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, những điểm tương đồng và khác biệt có thể được tìm thấy trong các nhóm quốc gia tham gia về nghề giảng dạy.
Và từ những kết quả nghiên cứu này, các tác giả thử đề xuất một "mô hình điển hình" của nghề học thuật Châu Á về mặt giảng dạy, nghiên cứu, quản trị và quản lý. Công trình “Sự thay đổi nghề giảng dạy: Những phát hiện chính của một khảo sát so sánh” (The Changing Academic Profession: Major Findings of a Comparative Survey)[184] của ba đồng tác giả Ulrich Teichler, Akira 22 Arimoto, William K. Nghiên cứu chỉ ra những điều kiện làm việc của giảng viên, vai trò của các giảng viên trong xã hội, so sánh với các ngành nghề khác ở đất nước họ và họ kỳ vọng gì về sự phát triển trong tương lai. Các tác giả đã chỉ ra những yếu tố chính tác động đến nghề giảng dạy, đó là: thu nhập, môi trường làm việc, đặc biệt là vấn đề thời gian và tự do học thuật, họ phải có quĩ thời gian nghiên cứu nhiều hơn quĩ thời gian giảng dạy.