Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh" thuộc chuyên ngành Giáo dục học (mã số: 62 14 01 02), được bảo vệ năm 2013 tại Học viện Chính trị. Công trình có độ dài 151 trang chính văn, 122 tài liệu tham khảo (gồm 112 tài liệu tiếng Việt và 10 tài liệu tiếng Anh) cùng hệ thống bảng số liệu và phụ lục.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện chương trình, nội dung và phương pháp dạy học. Luật Giáo dục cũng quy định phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học và năng lực thực hành.

Ở các học viện, trường sĩ quan quân đội (gọi tắt là đại học quân sự), việc giảng dạy và học tập đã có những bước chuyển biến, gắn học tập với nghiên cứu khoa học và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp của người sĩ quan cấp phân đội. Tuy nhiên, hoạt động học tập của học viên đại học quân sự nhìn chung vẫn còn ở trạng thái thụ động, nặng về tiếp thu một chiều từ bài giảng trên lớp, chưa phát huy được tính tích cực thông qua tự học để chủ động chiếm lĩnh tri thức. Công tác bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên chưa được tiến hành đồng bộ, bài bản và có hệ thống, chủ yếu mang tính cá thể, rời rạc ở từng đơn vị.

Khoảng trống nghiên cứu then chốt mà tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận tự học như một hình thức làm việc độc lập ngoài giờ lên lớp khi không có giảng viên, chưa xem tự học là phương pháp học tập chủ đạo bao trùm toàn bộ các khâu (nghe giảng trên giảng đường, thảo luận, ôn luyện và thực hành thao trường). Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và đề xuất các biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập theo tư tưởng "lấy tự học làm cốt" của Hồ Chí Minh cho học viên đại học quân sự là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa sư phạm trực tiếp.

Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng "lấy tự học làm cốt" của Hồ Chí Minh nhằm giúp học viên hình thành cách học chủ động, tích cực, đạt kết quả học tập vững chắc; góp phần đổi mới công tác chỉ đạo sư phạm, nâng cao chất lượng dạy và học ở các nhà trường quân đội.

Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định theo 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Phân tích, luận giải, làm rõ thực chất tư tưởng "lấy tự học làm cốt" của Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận về phương pháp học tập, bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự.
  2. Đánh giá thực trạng và rút ra các vấn đề nảy sinh trong việc vận dụng tư tưởng "lấy tự học làm cốt" của Hồ Chí Minh vào bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở các trường đại học quân sự hiện nay.
  3. Xác định yêu cầu sư phạm và đề xuất hệ thống các biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng "lấy tự học làm cốt" của Hồ Chí Minh.

Giả thuyết khoa học của luận án khẳng định: "Lấy tự học làm cốt" là luận điểm có giá trị định hướng trong hệ thống tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh. Nếu làm sáng tỏ được thực chất tư tưởng này và vận dụng đồng bộ vào việc bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự thông qua 4 biện pháp (giáo dục và xây dựng động cơ, thái độ học tập; bồi dưỡng phương pháp qua các hình thức tổ chức dạy học; xây dựng quy trình bồi dưỡng cụ thể; tăng cường hoạt động học tập nhóm) thì chất lượng và phương pháp học tập của học viên sẽ được nâng cao rõ rệt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học ở các trường đại học quân sự.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bồi dưỡng phương pháp học tập theo tư tưởng "lấy tự học làm cốt" của Hồ Chí Minh cho học viên ở đại học quân sự.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào phương pháp học tập của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội bậc đại học; phân tích bản chất, giá trị của tư tưởng "lấy tự học làm cốt" của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947).
  • Phạm vi không gian khảo sát và thực nghiệm: Khảo sát, điều tra xã hội học và tọa đàm tại 5 cơ sở đào tạo sĩ quan bậc đại học: Trường Sĩ quan Lục quân 1 (TSQLQ1), Trường Sĩ quan Lục quân 2 (TSQLQ2), Trường Sĩ quan Chính trị (TSQCT), Học viện Hậu cần (HVHC) và Học viện Quân y (HVQY). Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại 2 đơn vị: Trường Sĩ quan Lục quân 1 và Trường Sĩ quan Chính trị.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập, khảo sát và phân tích dữ liệu thực tiễn từ năm 2007 đến thời điểm bảo vệ (năm 2013).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án đã tổng quan hệ thống tư liệu theo 4 nhóm hướng nghiên cứu chính:

1. Hướng nghiên cứu về phương pháp học tập và bồi dưỡng phương pháp học tập của các tác giả ngoài nước:

  • Thời kỳ cổ đại: Khổng Tử (551 - 479 TCN) đề cao phương pháp "Học tư kết hợp", yêu cầu người học thực hiện năm điều (học rộng, hỏi cùng, nghĩ kỹ, biện rành, làm siêng) và tự suy luận ba góc khi được chỉ dạy một góc. Xôcơrát (469 - 339 TCN) phát triển "thuật đỡ đẻ" thông qua phương pháp đàm thoại để người học tự tìm ra chân lý tiềm ẩn.
  • Thời kỳ cận đại: Rabơle (1490 - 1553) mô tả tiến trình học gồm nghe, đọc, suy nghĩ, liên hệ, ôn tập; Monteno (1576 - 1636) nêu quan điểm "học qua hành, hành để học", xem người thầy là huấn luyện viên hướng dẫn học trò rèn trí phán đoán; Jan Amos Komensky (1592 - 1670) trong Phép dạy học vĩ đại nhấn mạnh bồi dưỡng tinh thần độc lập quan sát, đàm thoại và vận dụng vào thực tiễn.
  • Thời kỳ hiện đại: V.I. Lênin trong Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên đặt trọng tâm vào việc xác định thanh niên phải "học gì và học như thế nào". L.X. Vưgôtxki phát triển lý thuyết vùng phát triển gần, khẳng định việc hướng dẫn của người lớn tạo tiền đề cho sự hoạt động độc lập của trẻ; A.S. Macarenco trong Giáo dục trong thực tiễn nhấn mạnh việc dạy cách tương tác để học sinh tự chiếm lĩnh tri thức; A. Lubixơna với Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học phân tích kỹ năng khai thác thông tin và tự học suốt đời. Tsunesaburo Makiguchi (Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo), Raija Roysingh (Nền giáo dục cho thế kỷ 21), Patrice Pelpel (Tự học để dạy học), Tony Buzan (Bản đồ tư duy trong công việc) và Lưu Kim Tinh (Kỹ năng ngôn ngữ - Kỹ năng nâng cao hiệu quả học tập) đều phân tích các khía cạnh về phát huy vai trò chủ thể nhận thức của người học.

2. Hướng nghiên cứu của các tác giả trong nước về phương pháp học và tự học:

  • Truyền thống giáo dục Quốc Tử Giám với hình thức giảng kinh truyện kết hợp giám sinh tự học, tự làm văn.
  • Giai đoạn sau năm 1945: Phong trào "Dạy tốt - Học tốt", tài liệu Làm thế nào để học tốt và Muốn thành công trong học tập của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
  • Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định học ở đại học chủ yếu là học phương pháp: phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp đọc sách và phương pháp trình bày.
  • Các công trình chuyên khảo: Phạm Trung Thanh (1999) với Phương pháp học tập - nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học; Thái Duy Tuyên với Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới; Lê Khánh Bằng phân tích 4 kỹ năng tự học cơ bản (định hướng, thiết kế kế hoạch, thực hiện kế hoạch, tự kiểm tra); Hà Thị Đức phân tích tự học ngay trong giờ nghe giảng trên lớp; Trần Bá Hoành nghiên cứu phương pháp học tập chủ động và tự quản lý; nhóm tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo với tác phẩm Học và dạy cách học; nhóm tác giả Đoàn Văn Khái, Nguyễn Anh Tuấn, Dư Đình Phúc với Lôgic học và phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học.

3. Hướng nghiên cứu về phương pháp học tập và tự học trong quân đội:

  • Trịnh Quang Từ nghiên cứu phương hướng tổ chức hoạt động tự học của sinh viên các trường quân sự và xuất bản sách Phương pháp tự học.
  • Mai Văn Hoá (2003) bảo vệ luận án tiến sĩ Những giải pháp cơ bản bồi dưỡng phương pháp tự học cho học viên đào tạo sĩ quan ở các trường Đại học Quân sự, tập trung vào động cơ và cách học tập tự lực ngoài giờ.
  • Đặng Đức Thắng nghiên cứu tích cực hóa hoạt động nhận thức trong học tập các môn khoa học xã hội nhân văn quân sự.
  • Trần Đình Tuấn nghiên cứu tác động của bài giảng đối với việc định hướng phương pháp học tập cho học viên.
  • Nguyễn Chính Trung bàn về xây dựng phương pháp học tập chủ động; Phan Văn Tỵ nghiên cứu vận dụng dạy học hợp tác theo nhóm trong dạy học đại học quân sự.

4. Hướng nghiên cứu về tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh:

  • Đặng Xuân Kỳ (Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh), Hoàng Chí Bảo (Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh), Phạm Đức Chấn (Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân).
  • Phan Trọng Luận, Bùi Minh Hiền và Lê Xuân Phán nghiên cứu quan điểm dạy và học của Hồ Chí Minh.
  • Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Hoàng Yến, Phạm Khắc Chương, Đặng Nam Điền nghiên cứu về tấm gương và phương pháp tự học của Người.
  • Vũ Văn Nam bảo vệ luận án tiến sĩ Tư tưởng tự học Hồ Chí Minh và biện pháp nâng cao việc tự học cho sinh viên Đại học Sư phạm.
  • Nguyễn Văn Chung với luận án tiến sĩ vận dụng tư tưởng "Huấn luyện phải nhằm đúng nhu cầu"; Trần Đình Tuấn trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục khẳng định quan điểm tự học là định hướng sư phạm mới; các công trình tập thể như Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục quân sự, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trong lĩnh vực quân sự.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Từ việc phân tích tổng quan các công trình trên, tác giả luận án chỉ ra 3 khoảng trống khoa học:

  1. Về nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh: Các công trình chủ yếu khai thác tấm gương tự học bền bỉ của Người hoặc nghiên cứu chung về tư tưởng giáo dục. Luận điểm cốt lõi "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào" trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947) chưa được nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ lý luận dạy học để vận dụng vào đào tạo sĩ quan quân sự.
  2. Về bản chất phương pháp học tập: Phần lớn các tài liệu xem tự học là hoạt động bổ trợ, diễn ra ngoài giờ lên lớp khi không có sự hiện diện của giảng viên. Chưa có công trình nào xây dựng hệ thống lý luận xem tự học là "cốt lõi", đóng vai trò chủ đạo ngay trong lúc nghe giảng bài trên lớp, khi thảo luận, khi tham gia xêmina cũng như trong hoạt động huấn luyện thực hành.
  3. Về biện pháp thực thi trong môi trường quân sự: Các nghiên cứu quân sự trước đây chủ yếu dừng lại ở đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên hoặc quản lý giờ tự học của đơn vị, chưa đưa ra được quy trình và các biện pháp sư phạm đồng bộ để bồi dưỡng phương pháp học tập lấy tự học làm trung tâm cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo. Tác giả vận dụng các quan điểm tiếp cận khoa học: tiếp cận hệ thống - cấu trúc; tiếp cận phức hợp hoạt động - giá trị - nhân cách; tiếp cận lịch sử - lôgíc và tiếp cận thực tiễn.

Cơ sở khoa học của tư tưởng "lấy tự học làm cốt" được luận án phân tích trên 4 bình diện:

  • Cơ sở triết học: Nguyên lý về sự phát triển và vai trò quyết định của nội lực, mâu thuẫn nội tại trong quá trình tự biến đổi, phát triển nhân cách của chủ thể con người.
  • Cơ sở tâm lý học: Bản chất của hoạt động nhận thức con người là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách sáng tạo có tính chất nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của người dạy.
  • Cơ sở giáo dục học: Hoạt động của cá nhân giữ vai trò quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách; các tác động bên ngoài chỉ phát huy hiệu quả khi chuyển hóa thành nhu cầu tự thân.
  • Cơ sở thực tiễn: Tấm gương và trải nghiệm tự học kiên trì, suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực tiễn đấu tranh cách mạng.

Khung phân tích trung tâm của luận án là mô hình quan hệ giữa ba yếu tố trong luận điểm của Hồ Chí Minh (tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, tháng 10/1947):

  • "Tự học" (làm cốt): Là hoạt động chủ động, độc lập, tự giác chiếm lĩnh tri thức; giữ vai trò trung tâm, là nội lực quyết định trực tiếp chất lượng học tập.
  • "Thảo luận" (giúp vào): Là môi trường tương tác xã hội, trao đổi giữa học viên với học viên, giữa học viên với tập thể đơn vị nhằm kiểm chứng, hiệu chỉnh và đào sâu kiến thức đã tự tích lũy.
  • "Chỉ đạo" (giúp vào): Là sự định hướng, dẫn dắt, gợi mở và kiểm tra, đánh giá của giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục; đóng vai trò trợ lực sư phạm, không làm thay học viên.

Tiếp cận hoạt động học theo lý thuyết thông tin, phương pháp học tập của học viên đại học quân sự được cấu trúc thành ba nhóm thao tác: (1) Các cách thức thu nhận thông tin (nghe giảng, đọc giáo trình, tra cứu tài liệu, quan sát); (2) Các cách thức xử lý và ghi nhớ thông tin (phân tích, so sánh, tổng hợp, sơ đồ hóa, lập bản đồ tư duy); (3) Các cách thức vận dụng thông tin và tự kiểm tra, điều chỉnh kết quả học tập.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

Nhóm phương pháp Phương pháp cụ thể Quy mô, kỹ thuật và địa bàn triển khai
Nghiên cứu lý thuyết Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa Khảo cứu 122 tài liệu tham khảo, các tác phẩm của Hồ Chí Minh, văn kiện Đảng và lý luận dạy học đại học.
Nghiên cứu thực tiễn Tổng kết kinh nghiệm sư phạm Khai thác các báo cáo tổng kết đào tạo của Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và các nhà trường.
Quan sát sư phạm Quan sát trực tiếp các giờ giảng bài trên lớp, giờ thảo luận, xêmina, giờ tự học buổi tối của học viên.
Điều tra bằng bảng hỏi (xã hội học) Sử dụng 2 mẫu phiếu điều tra đối với 3 nhóm đối tượng: giảng viên, cán bộ quản lý, học viên tại 5 cơ sở (HVHC, HVQY, TSQLQ1, TSQCT, TSQLQ2).
Phương pháp tọa đàm sâu Sử dụng mẫu hỏi chuyên biệt, tổ chức tọa đàm với 100 học viên tại 3 trường (HVHC, TSQCT, TSQLQ1).
Phương pháp chuyên gia Lấy ý kiến các nhà khoa học giáo dục, chuyên gia sư phạm quân sự trong và ngoài quân đội.
Thực nghiệm sư phạm Triển khai tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 và Trường Sĩ quan Chính trị trên môn học Giáo dục học quân sự.
Xử lý số liệu Toán thống kê Tính toán các tham số đặc trưng: tần suất, tần suất lũy tích, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định sai khác giữa lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh

Chương này tập trung làm rõ nguồn gốc xuất xứ, cơ sở lý luận và nội hàm khái niệm của vấn đề nghiên cứu.

Về xuất xứ lịch sử, tác giả phân tích hoàn cảnh tháng 10 năm 1947, trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước yêu cầu chấn chỉnh tác phong làm việc và bồi dưỡng năng lực cán bộ chuẩn bị cho chiến dịch Thu Đông 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (ký bút danh X.Z, do Nhà xuất bản Sự Thật phát hành lần đầu năm 1948, tái bản lần thứ 7 năm 1959). Trong phần thứ tư bàn về "Vấn đề cán bộ", tại mục huấn luyện lý luận, Người chỉ rõ nguyên tắc và phương pháp: "Học tập thì theo nguyên tắc: kinh nghiệm và thực tế phải đi cùng nhau", và "Cách học tập: Tổ chức từng ban cao cấp hoặc trung cấp. Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào".

Tác giả luận giải thực chất của luận điểm bao gồm ba mệnh đề liên kết hữu cơ:

  • "Lấy tự học làm cốt": Khẳng định tự học là cái cốt lõi, là bộ xương sống của hoạt động nhận thức. Nếu thiếu tự học, việc học tập trở nên thụ động và hình thức. Người học phải tự mình xác định mục tiêu, tự lập kế hoạch, tự triển khai chiếm lĩnh tri thức và tự đánh giá kết quả.
  • "Do thảo luận... giúp vào": Hoạt động học không diễn ra cô lập mà gắn chặt với tập thể. Thảo luận giúp đối chiếu, cọ xát tư duy, phát huy trí tuệ tập thể để làm sâu sắc thêm những hiểu biết cá nhân đã tự tích lũy.
  • "Và chỉ đạo giúp vào": Giảng viên và người chỉ huy đóng vai trò định hướng sư phạm, hướng dẫn phương pháp, giải đáp vướng mắc và kiểm tra đánh giá, giữ vai trò hỗ trợ ("giúp vào") chứ không làm thay năng lực nội sinh của người học.

Từ việc làm rõ bản chất tư tưởng, chương 1 xây dựng bảng so sánh (Bảng 1.2 trong văn bản) phân biệt phương pháp học tập lấy tự học làm cốt với phương pháp học tập thụ động, đồng thời xác lập hệ thống các tiêu chí đánh giá mức độ hình thành phương pháp học tập chủ động của học viên đại học quân sự.

Chương 2: Những vấn đề thực tiễn về bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh

Nội dung chương 2 khái quát lịch sử vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học trong hệ thống nhà trường quân đội từ sau năm 1945 đến nay, đồng thời trình bày các dữ liệu thực trạng khảo sát giai đoạn 2007 - 2011.

Khảo sát thực tiễn được tiến hành trên diện rộng tại 5 cơ sở giáo dục đại học quân sự đại diện cho các khối ngành đào tạo sĩ quan chỉ huy, chính trị, hậu cần, quân y: Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Chính trị, Học viện Hậu cần và Học viện Quân y (thể hiện ở Bảng 2.1 về tổng hợp đối tượng và số lượng điều tra).

Các dữ liệu điều tra (trình bày qua Biểu đồ 2.1, Bảng 2.3, Bảng 2.4 và Bảng 2.5) phản ánh:

  • Về nhận thức: Đa số cán bộ, giảng viên và học viên đều thừa nhận tầm quan trọng của tự học. Tuy nhiên, tỷ lệ học viên nhận thức đầy đủ rằng tự học phải là hoạt động cốt lõi diễn ra ngay trong giờ nghe giảng trên giảng đường còn hạn chế; phần lớn học viên vẫn coi tự học chỉ đơn thuần là việc học bài vào buổi tối hoặc ngoài giờ hành chính.
  • Về phương pháp thực tế: Tình trạng học tập thụ động, ghi chép máy móc lời giảng của thầy vẫn chiếm tỷ lệ cao. Học viên thiếu các kỹ năng thu nhận và xử lý thông tin chuyên sâu như: kỹ năng đọc sách và ghi chép tài liệu khoa học, kỹ năng xây dựng đề cương tự nghiên cứu, kỹ năng tham gia tranh luận khoa học tại các buổi xêmina.
  • Về công tác bồi dưỡng: Các hình thức bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở các trường đại học quân sự còn nghèo nàn, chưa thành nếp thường xuyên; chủ yếu lồng ghép trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa hoặc hội nghị học tốt đầu khóa học mà chưa hình thành quy trình thống nhất trong kế hoạch huấn luyện.

Chương 3: Yêu cầu và biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh

Trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng, chương 3 đề xuất 4 yêu cầu sư phạm và hệ thống 4 nhóm biện pháp bồi dưỡng (được khái quát qua Sơ đồ 3.1):

  1. Biện pháp 1: Giáo dục, xây dựng động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho học viên. Bồi dưỡng nhận thức về vị trí, vai trò của người sĩ quan tương lai, khơi dậy nhu cầu tự thân và tinh thần tự lực, tự cường trong chiếm lĩnh tri thức quân sự; biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
  2. Biện pháp 2: Bồi dưỡng phương pháp học tập theo tư tưởng "lấy tự học làm cốt" thông qua các hình thức tổ chức dạy học. Đổi mới cách thức tổ chức các hình thức dạy học cơ bản:
    • Trong giờ giảng bài: Hướng dẫn học viên cách nghe giảng kết hợp với tư duy phản biện, ghi chép có chọn lọc, phát hiện mâu thuẫn nhận thức ngay trên lớp.
    • Trong giờ thảo luận, xêmina: Tổ chức cho học viên trao đổi, tranh luận, tập dượt bảo vệ quan điểm khoa học độc lập.
    • Trong giờ tự học, tự nghiên cứu: Chỉ đạo học viên lập kế hoạch đọc tài liệu, ghi tóm tắt, tự giải quyết các bài tập nhận thức từ dễ đến khó.
    • Trong huấn luyện thực hành thao trường: Rèn luyện kỹ năng quan sát, thao tác chỉ huy và tự rút kinh nghiệm sau mỗi lần tập.
  3. Biện pháp 3: Xây dựng và thực hiện quy trình bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên. Xác lập quy trình sư phạm chuẩn hóa gồm các giai đoạn: từ trang bị tri thức lý thuyết về phương pháp học $\rightarrow$ tổ chức tập dượt, rèn luyện kỹ năng qua các môn học cụ thể $\rightarrow$ học viên tự vận dụng độc lập $\rightarrow$ kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh.
  4. Biện pháp 4: Tăng cường hoạt động theo nhóm để bồi dưỡng và tự bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên. Phát huy đặc điểm của môi trường quân sự với tính tổ chức chặt chẽ; thành lập các nhóm học tập, "đôi bạn cùng tiến", câu lạc bộ học thuật để học viên kèm cặp, chia sẻ kỹ năng khai thác tài liệu, tạo môi trường tương tác "thảo luận giúp vào" như tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp bồi dưỡng thông qua thực nghiệm sư phạm thực tế.

  • Địa bàn và nội dung thực nghiệm: Được tiến hành tại 2 cơ sở thực nghiệm (CSTN 1: Trường Sĩ quan Lục quân 1; CSTN 2: Trường Sĩ quan Chính trị). Nội dung thực nghiệm áp dụng trực tiếp vào quá trình giảng dạy môn Giáo dục học quân sự.
  • Tổ chức thực nghiệm: Luận án chọn các lớp tương đương về trình độ ban đầu để phân chia thành nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC). Lượng hóa tiêu chí đánh giá chất lượng (Bảng 4.2) và kiểm tra trình độ đầu vào trước thực nghiệm (Bảng 4.3 cho thấy kết quả hai nhóm tương đương nhau, không có sự sai khác mang tính ngẫu nhiên lớn).
  • Kết quả sau thực nghiệm: Dữ liệu được đo lường, tính toán chi tiết qua chuỗi bảng biểu và đồ thị:
    • Bảng 4.4, Bảng 4.5, Bảng 4.6 thể hiện phân phối tần suất và tần suất lũy tích về sự tiến bộ phương pháp học tập của học viên.
    • Đồ thị 4.7 và Đồ thị 4.10 mô tả đường cong tần suất lũy tích điểm số ở cả 2 cơ sở thực nghiệm; đường lũy tích của nhóm TN luôn dịch chuyển về phía điểm khá, giỏi so với nhóm ĐC.
    • Bảng 4.9 và Bảng 4.12 phân tích các tham số thống kê đặc trưng (điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên). Kết quả điểm trung bình phương pháp học tập và kết quả học tập môn Giáo dục học quân sự của các lớp TN luôn cao hơn lớp ĐC có ý nghĩa thống kê.
    • Bảng 4.13 và Bảng 4.14 đối chiếu, khẳng định học viên nhóm TN có sự tiến bộ vượt bậc về tính chủ động, khả năng tự thu nhận và xử lý tài liệu, kỹ năng thảo luận nhóm và kết quả kiểm tra thi kết thúc học phần.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án đã phân tích, luận giải sâu sắc cơ sở khoa học và làm sáng tỏ giá trị lý luận dạy học của quan điểm "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào" trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947) của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Xác định rõ bản chất phương pháp học tập của học viên đại học quân sự: xem tự học là nhân tố trung tâm (nội lực) xuyên suốt mọi hoạt động nhận thức; định vị chính xác mối quan hệ giữa tự lực cá nhân với trợ lực xã hội ("thảo luận") và trợ lực sư phạm ("chỉ đạo").
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ tiến bộ về phương pháp học tập và quy trình các bước bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, có số liệu khảo sát cụ thể về nhận thức, thái độ và kỹ năng học tập của học viên tại 5 trường, học viện quân đội lớn (TSQLQ1, TSQLQ2, TSQCT, HVHC, HVQY).
  • Đề xuất 4 nhóm biện pháp sư phạm cụ thể, có tính ứng dụng cao; được kiểm nghiệm qua thực nghiệm sư phạm trên môn Giáo dục học quân sự tại 2 trường sĩ quan, chứng minh tính khả thi trong việc cải thiện kỹ năng tự học và nâng cao kết quả học tập của học viên.

Kiến nghị và đề xuất của tác giả

  • Đối với các cơ quan quản lý đào tạo (Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị): Cần thống nhất chủ trương chỉ đạo, đưa nội dung bồi dưỡng phương pháp học tập vào chương trình khung khóa học cho học viên mới nhập trường; cải tiến chế độ, định mức thời gian tự học trong ngày của các nhà trường.
  • Đối với các học viện, trường đại học quân sự: Cần xem việc hướng dẫn phương pháp học là một chức năng giảng dạy chính thức của giảng viên; đầu tư nguồn học liệu, mở rộng hệ thống thư viện, phòng đọc và tạo điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ học tập nhóm.
  • Đối với giảng viên và cán bộ quản lý học viên: Giảng viên phải chuyển từ lối truyền thụ áp đặt sang giảng dạy gợi mở, chuyển giao phương pháp tự nghiên cứu; cán bộ chỉ huy phân đội cần kết hợp chặt chẽ giữa quản lý kỷ luật quân sự với tạo không gian tự chủ học thuật cho học viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát thực tiễn mới tập trung ở 5 nhà trường quân đội đào tạo sĩ quan cấp phân đội bậc đại học, chưa bao quát được toàn bộ hệ thống các viện nghiên cứu, trung tâm huấn luyện và các học viện đào tạo cán bộ cấp chiến thuật, chiến dịch.
    • Quá trình thực nghiệm sư phạm kiểm chứng các biện pháp mới được tiến hành trong phạm vi môn Giáo dục học quân sự tại 2 cơ sở đào tạo (Trường Sĩ quan Lục quân 1 và Trường Sĩ quan Chính trị); chưa có điều kiện thực nghiệm mở rộng ở các môn kỹ thuật quân sự, chiến thuật binh chủng hợp thành hoặc khoa học tự nhiên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu vận dụng quy trình và các biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập "lấy tự học làm cốt" vào các nhóm môn học đặc thù khác (chiến thuật quân sự, kỹ thuật quân sự, diễn tập ngoài thực địa).
    • Nghiên cứu ứng dụng tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh cho các đối tượng người học khác trong quân đội như đào tạo sau đại học, đào tạo hoàn thiện sĩ quan hoặc huấn luyện cán bộ tại các đơn vị sẵn sàng chiến đấu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng trong hệ thống giáo dục quốc phòng và giáo dục đại học:

  • Cán bộ quản lý giáo dục, cơ quan đào tạo các nhà trường quân đội: Tham khảo khung tiêu chí đánh giá phương pháp học tập và quy trình tổ chức bồi dưỡng kỹ năng học tập để xây dựng kế hoạch huấn luyện chuẩn hóa cho học viên ngay từ năm thứ nhất.
  • Giảng viên các môn Khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là giảng viên Giáo dục học quân sự: Vận dụng giáo án thực nghiệm, các kỹ thuật điều khiển thảo luận, xêmina và kỹ năng hướng dẫn học viên tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp đã được kiểm chứng ở Chương 3 và Chương 4.
  • Học viên đào tạo sĩ quan: Trực tiếp tham khảo các kỹ thuật thu nhận, ghi chép và xử lý thông tin, cách thức lập kế hoạch tự học để thoát khỏi lối học tập thụ động, đáp ứng mục tiêu kết hợp đào tạo học vấn với đào tạo chức vụ chỉ huy.
  • Các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học, Lý luận và phương pháp dạy học: Tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh với việc thiết kế bảng hỏi xã hội học và kỹ thuật xử lý thực nghiệm sư phạm bằng toán thống kê.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận điểm "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào" được Hồ Chí Minh nêu trong tác phẩm nào và hoàn cảnh ra đời ra sao? Luận điểm được nêu trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, hoàn thành tháng 10 năm 1947 (ký bút danh X.Z, Nhà xuất bản Sự Thật in lần đầu năm 1948). Tác phẩm ra đời trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, toàn Đảng chuẩn bị cho chiến dịch Thu Đông 1947, đòi hỏi phải chấn chỉnh lề lối công tác, khắc phục tình trạng xao nhãng học tập của cán bộ và nâng cao năng lực thực tiễn thông qua công tác huấn luyện cán bộ.

2. Ba yếu tố "Tự học", "Thảo luận" và "Chỉ đạo" trong luận án có quan hệ với nhau như thế nào? Ba yếu tố tạo thành một chỉnh thể sư phạm thống nhất: "Tự học" là yếu tố cốt lõi, giữ vai trò nội lực quyết định sự phát triển nhân cách và chất lượng tiếp thu; "Thảo luận" là môi trường tập thể hỗ trợ, giúp cọ xát và đào sâu nhận thức; "Chỉ đạo" là sự hướng dẫn, cố vấn mang tính sư phạm của giảng viên nhằm định hướng cho quá trình tự học đi đúng mục tiêu.

3. Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của luận án được thực hiện tại những cơ sở nào? Khảo sát thực trạng được triển khai tại 5 trường đại học quân sự: Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Chính trị, Học viện Hậu cần và Học viện Quân y. Quá trình thực nghiệm sư phạm được tiến hành trực tiếp tại 2 đơn vị: Trường Sĩ quan Lục quân 1 và Trường Sĩ quan Chính trị.

4. Bốn biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập do tác giả đề xuất là gì? Hệ thống biện pháp gồm: (1) Giáo dục và xây dựng động cơ, thái độ học tập đúng đắn; (2) Bồi dưỡng phương pháp học tập thông qua các hình thức tổ chức dạy học trên giảng đường và thao trường; (3) Xây dựng và thực hiện quy trình bồi dưỡng chuẩn hóa; (4) Tăng cường hoạt động học tập theo nhóm quân sự để học viên hỗ trợ, bồi dưỡng lẫn nhau.

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm môn Giáo dục học quân sự chứng minh điều gì? Các tham số thống kê (tần suất lũy tích, điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn) ở 2 cơ sở thực nghiệm cho thấy nhóm thực nghiệm có sự tiến bộ vượt bậc so với nhóm đối chứng về khả năng làm việc độc lập, kỹ năng tranh luận và điểm kiểm tra học phần, chứng minh các biện pháp sư phạm đề xuất mang lại hiệu quả thực tiễn rõ rệt.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự dựa trên việc khai thác bản chất luận điểm "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận giáo dục hiện đại với việc khảo sát dữ liệu thực tế tại 5 cơ sở đào tạo quân sự, công trình đã chỉ rõ thực trạng thụ động trong học tập và đề xuất hệ thống 4 nhóm biện pháp sư phạm có căn cứ khoa học. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên môn Giáo dục học quân sự tại 2 trường sĩ quan đã chứng minh tính hiệu quả và khả năng ứng dụng thực tế của đề tài, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ sĩ quan cấp phân đội trong quân đội hiện nay.