Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Những khái niệm cơ bản về phổ biến, giáo dục pháp luật 1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật Phổ biến, giáo dục pháp luật là là nội dung quan trọng để cụ thể hóa hoạt động quản lý xã hội của nhà nước bằng pháp luật, nó không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà nó còn có ý nghĩa xã hội, văn hóa và nhân văn để hoạt động quản lý của nhà nước có hiệu lực và hiệu quả trong đời sống xã hội. Qua hoạt động đó sẽ giúp chủ thể và khách thể của hoạt động PBGDPL hiểu và biết được những quy định của pháp luật để họ thực hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình khi tham gia vào công tác PBGDPL cũng như các quan hệ pháp luật.
Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất Đà Nẵng năm 1997 thì: "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó” [41, tr. Từ điển từ và ngữ Hán - Việt thì "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội" [44, tr. Các tài liệu khác nghiên cứu về giáo dục, pháp luật thì quan niệm “Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị.) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng” [43, tr. 7]; Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật nhằm mục đích nâng cao nhận thức của nhân dân; tuy nhiên hoạt động đó cần phải được tiến hành một cách rộng khắp và cần phải được tổ chức và tiến hành một cách có hệ thống và chặt chẽ hướng tới những đối tượng và phạm vi nhất định.
Quan niệm về PBGDPL được đa phần các nhà nghiên cứu và các tác giả đồng nhất trong các tài liệu khoa học pháp lý như sau: 8 PBGDPL là hoạt động có định hướng của cơ quan, tổ chức, có chủ chương và kế hoạch của chủ thể thông qua những hình thức và phương pháp để tác động lên khách thể là đối tượng tác động; qua đó hình thành cho khách thể những tri thức pháp lý, có ý thức và tình cảm, tạo niềm tin để có những hành vi phù hợp với những quy định của pháp luật mà khách thể đó tham gia trong xã hội. Mục đích, yêu cầu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 1. Mục đích của việc phổ biến, giáo dục pháp luật - Nâng cao hiểu biết pháp luật cho đối tượng Pháp luật là công cụ quan trọng nhất trong đời sống quản lý xã hội của mỗi quốc gia. Muốn quản lý xã hội bằng pháp luật thì đòi hỏi khi xây dựng và ban hành những văn bản luật đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức xã hội có liên quan cần phải tổ chức tuyền truyền, PBGDPL cho nhân dân hiểu được ý nghĩa và vai trò của của những quy định pháp luật đó, để họ biết, hiểu và hình thành ý thức ủng hộ và tuân thủ pháp luật trong đời sống.
Bản chất của pháp luật là thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, nhằm quản lý xã hội và phục vụ nhân dân, tuy nhiên dù mục đích tốt đẹp của bất kỳ pháp luật của quốc gia nào thì khi tiến hành xây dựng và ban hành phải xuất phát từ mục đích và quyền lợi của nhân dân, phải tuyên truyền, PBGDPL rộng trong nhân dân để dân biết, dân làm và thực hiện. Khi xây dựng một văn bản pháp luật mới nào đó, theo quy định của pháp luật các cơ quan ban hành văn bản cần phải thông tin và lấy ý kiến của các cơ quan tổ chức có liên quan và những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của pháp luật; được những chủ thể chịu sự tác động trực tiếp quan tâm, tìm hiểu do nhu cầu công việc và học tập, hay nghiên cứu, hoặc sản xuất kinh doanh; nhưng số lượng tác động trực tiếp này không nhiều và trình độ dân trí, hiểu biết và tự ý thức tìm hiểu pháp luật chưa cao và không đồng đều giữa các tầng lớp dân cư và đặc biệt đối với đồng bào DTTS. Do đó các cơ quan nhà nước có trách nhiệm và thẩm quyền, các tổ chức xã hội và toàn bộ hệ thống chính trị cần phải tích cực tham gia và quá trình PBGDPL, thông qua hoạt động này những yêu cầu, nội dung và những quy định của pháp luật mới đến được với nhân dân và đặc biệt đối với đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa đó là cách 9 thức và phương pháp hữu hiệu nhất để nâng cao hiểu biết về pháp luật cho nhân dân và là điều kiện, tiền đề của xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quản lý xã hội trên cơ sở những quy định của pháp luật và bằng pháp luật. - Hình thành lòng tin vào pháp luật cho đối tượng Không có một pháp luật của quốc gia nào khi ban hành ra đã đảm bảo hiệu lực pháp lý và quản lý tuyệt đối; pháp luật chỉ có thể được thực hiện khi nhân dân hiểu, tin tưởng và phù hợp với quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ và đảm bảo cho họ những quyền đó, thì khi đó nhân dân mới tin tưởng và tự giác tuân thủ, chấp hành pháp luật, khi đó không cần đến sự cưỡng chế của nhà nước thì đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật sẽ tự giác và có ý thức thực hiện.
Tạo lập niềm tin vào pháp luật và cho mỗi người và cả cộng đồng đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố. Trong đó PBGDPL là yếu tố quan trọng và đầu tiên của quá trình thực hiện áp dụng pháp luật, qua đó sẽ biết được sự đồng tình ủng hộ hay phản ứng của nhân dân đối với những nội dung và vấn đề pháp luật đó muốn hướng tới và điều chỉnh. Pháp luật cũng là những quy định và cũng như bất kỳ hiện tượng xảy ra trong xã hội thực tại nó cũng có tính hai mặt của nó, pháp luật không thể phản ánh và thỏa mãn cũng như đáp ứng hết mọi yêu cầu và mong muốn của các tầng lớp nhân dân. Do đó trong quá trình áp dụng, điều chỉnh và thực hiện quản lý pháp luật vào trong đời sống xã hội nếu được đông đảo và phù hợp với những nguyện vọng chính đáng của nhân dân thì đó chính là thước đo sự phù hợp của pháp luật đó với đời sống xã hội; tuy nhiên bên cạnh đó sẽ có những bộ phận, hay một số ít những người sẽ chưa thực sự đồng tình hay phản đối nó, do đó mới cần đến hoạt động PBGDPL để tất cả các đối tượng điều chỉnh của pháp luật và nhân dân hiểu đúng và tự nguyện thực hiện, qua đó mới hình thành ý thức và niềm tin của xã hội và nhân dân đối với pháp luật của nhà nước.
- Nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng Trong khoa học pháp lý thì ý thức pháp luật chính là bộ phận không thể thiếu của đời sống pháp luật. Bởi tất cả những hoạt động của con người đều là những hoạt 10 động có ý thức, được rèn luyện và nâng cao trong quá trình học tập và tìm hiểu và tâm lý của con người. Do đó, văn bản pháp luật luôn luôn thể hiện trong tâm lý pháp luật và chính là tư tưởng, quan niệm của nhà nước và chế độ xã hội đó hình thành nên; sự tồn tài của pháp luật trong hoạt động quản lý xã hội của nhà nước luôn gắn chặt với tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật của xã hội đó. Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật.
Tâm lý pháp luật là các cảm xúc, tâm trạng, xúc cảm, thái độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác. Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát, thiếu tính hệ thống, ví dụ: tình cảm đối với vấn đề công bằng, nỗi sợ hãi trước hình phạt, sự đồng tình hay phản đối với bản án mà Tòa án đã tuyên cho bị cáo. Thái độ quan tâm, phẫn nộ hay trung lập lãnh đạm, thờ ơ đối với các hành vi vi phạm pháp luật… đều là những biểu hiện đa dạng, nhạy cảm về tâm lý pháp luật của các cá nhân. Tâm lý pháp luật chịu sự tác động mạnh mẽ, thường xuyên từ các yếu tố khách quan và chủ quan như môi trường tự nhiên, xã hội, văn hóa, tôn giáo, tâm lý, tình trạng sức khỏe.
học vấn, tài chính, các mối quan hệ gia đình, xã hội… Hệ tư tưởng pháp luật là tổng thể các tư tưởng, học thuyết, trường phái lý luận, quan điểm khoa học về pháp luật. Đó là sự phản ánh, luận giải trong tư tưởng pháp luật bao quát hầu hết các lĩnh vực cơ bản của đời sống nhà nước và pháp luật như: vai trò, vị trí, chức năng pháp luật, cách thức xây dựng, kỹ thuật xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật; quan điểm về các loại nguồn pháp luật; các quyền và nghĩa vụ pháp lý… Giữa tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật có mối quan hệ biện chứng, phụ thuộc, tác động lẫn nhau. So với tư tưởng pháp luật, tâm lý pháp luật là bộ phận bền vững hơn, bảo thủ hơn. Đồng thời tâm lý pháp luật dưới sự tác động của đời sống xã hội cũng dao động, trong nhiều trường hợp lại thay đổi dễ dàng, nhanh chóng, chỉ có điều thay đổi theo hướng nào, tích cực hay tiêu cực.