Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Căn cứ pháp lý - Tháng 12 năm 1998, Việt Nam tham gia ký Nghị định thư Kyoto và chính thức phê chuẩn Nghị định thư này vào tháng 9/2002; - Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; - Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam); - Quyết định số 35/2005/QĐ-TTg ngày 17/12/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định thư Kyoto ở Việt Nam; - Quyết định số 47/2007/TTg ngày 6/4/2007, Thủ tướng Chính phủ ra phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị định thư Kyoto trong giai đoạn 2007-2010; - Năm 2007, Việt Nam công bố Chiến lược Quốc gia về phòng chống, thích nghi và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 (SRV, 2007); - Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020; - Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 12 năm 2008, của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; - Quyết định số 1002/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 07 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; - Quyết định số 2139/QĐ-TTg, ngày 5/12/2011, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; n 5 - Quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 27/6/2011 của UBND tỉnh về việc phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí dự án: “ Đánh giá mức độ biến đổi khí hậu, xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2020”; - Quyết định số 1114/QĐ-UBND ngày 27/6/2011 của UBND tỉnh về việc phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí dự án: Kế hoạch hành động ứng phó với bản biến đổi khí hậu của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2020”; - Quyết định số 799/QĐ-UBND ngày 24/5/2012 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch hành động ứng phó với bản biến đổi khí hậu của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2020”; 1. Biến đổi khí hậu “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.
Nguyên nhân biến đổi khí hậu Sau cuộc tranh luận kéo dài hơn 30 năm, cho đến nay, các nhà khoa học đã có sự nhất trí cao và cho rằng trong những thập kỷ gần đây, những hoạt động phát triển kinh tế - xã hội với nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, giao thông, nông – lâm nghiệp và sinh hoạt đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O,CH4, H2S và nhất là CO2) trong khí quyển, làm Trái đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu (Al Gore, 2006). Theo Báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC (2007), hàm lượng các khí nhà kính cơ bản (CO2, CH4, N2O) đều tăng rõ rệt trong những thập kỷ gần đây. Trong đó, tiêu thụ năng lượng do đốt các nhiên liệu hóa thạch đóng góp khoảng 46% vào tiềm năng nóng lên toàn cầu; Phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động n 6 nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các khí gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm ấm lên toàn cầu. Sản phẩm hóa học (CFCs, halon.) 24 % và các nguồn khác (rác thải.
Tìm hiểu chung về kiến thức bản địa Tri thức bản địa (IK)/kiến thức bản địa/tri thức truyền thống/tri thức địa phương là hệ thống tri thức mà người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội. Tri thức bản địa được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên. Tập hợp những hiểu biết, kiến thức và ý nghĩa này là một phần của tổng hợp văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan. Những tri thức này là nền tảng cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như khai thác tự nhiên, các hệ thống canh tác và chăn nuôi, tìm kiếm nguồn nước, tự bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bản thân; và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường.
Tri thức bản địa sử dụng nguồn tài nguyên của địa phương, ít phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ bên ngoài. Tri thức bản địa chủ yếu được truyền miệng từ đời này sang đời khác, ít khi được lưu trữ bằng văn bản ghi chép. Tri thức bản địa được hình thành trong quá trình nghiệm sinh (trải nghiệm và đúc kết thành tri thức), luôn có sự chọn lọc trong quá trình vận động của cuộc sống, hướng đến sự thích nghi với đặc điểm văn hoá, xã hội và môi trường. Tri thức bản địa luôn được làm giàu qua việc tích hợp các kinh nghiệm mới hoặc tri thức mới có được từ quá trình tiếp biến văn hoá.
Tri thức bản địa không hạn chế ở những người dân nông thôn. Trên thực thế, bất kỳ nhóm cộng đồng nào cũng có tri thức bản địa: nông thôn và thành thị; người định cư và người du cư; người bản địa và người nhập cư. Quá trình giao lưu, xáo trộn dân cư cũng sẽ dẫn đến việc hình thành các tri thức bản địa mới, trên cơ sở của quá trình tiếp xúc và biến đổi, đào thảỉ (những gì không n 7 còn phù hợp) và tích hợp (tiếp thu những yếu tố mới, có ích cho cuộc sống), thường được gọi bằng một thuật ngữ mang tính bao quát hơn là tri thức địa phương (local knowledge). Chính vì vậy, tri thức bản địa phản ánh đặc tính của lứa tuổi, giới tính và đặc điểm của nhóm xã hội: Những người già có nhiều loại kiến thức khác so với thế hệ trẻ; phụ nữ có những tri thức khác so với nam giới; người có học thức và người ít học tích hợp được các vốn tri thức khác nhau.
Có những kiến thức chung, được tất cả mọi người trong cộng đồng hiểu biết; cũng có những kiến thức cùng chia sẻ, có nhiều người biết nhưng không phải toàn bộ cộng đồng; lại có những kiến thức chuyên nghiệp/chuyên biệt, chỉ có ở một số ít người (ví dụ chỉ có một số ít người dân là thầy thuốc, thầy cúng, nghệ nhân, bà đỡ hoặc thợ thủ công…).[13] Trước đây, tri thức bản địa/tri thức địa phương thường được hiểu là đối lập với “kiến thức chính thống” (formal knowledge)/“kiến thức khoa học”/“Quốc tế” hay “Hiện đại” - hệ thống kiến thức phát triển phần lớn dựa trên nền tảng giáo dục, được các trường đại học, viện nghiên cứu và công ty tư nhân sử dụng phương pháp khoa học xây dựng nên; được kiểm chứng trong phòng thí nghiệm, được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Song thực tế cho thấy, sau một quá trình giao lưu và biến đổi, đào thải và tích hợp, tiếp thu và cải biến, đã có nhiều điểm chồng chéo giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa học; nhiều kiến thức phương Tây đã được bản địa hoá thành kiến thức của người dân nên nhiều khi sẽ rất khó phân biệt giữa hai loại kiến thức này.Ở những quốc gia đang phát triển, hệ thống tri thức bản địa luôn tồn tại song song với các hệ thống kiến thức chính thống. [13] Tri thức bản địa chính là nền tảng cơ sở để duy trì cuộc sống của các xã hội truyền thống. Hơn thế nữa, trong bối cảnh các xã hội tương đối khép kín với nền kinh tế nặng về tự cung tự cấp của đa số dân tộc thiểu số ở Việt Nam, đó còn là cơ sở duy nhất.
Sự xuất hiện của các “tri thức chính thống” và văn hoá phương Tây đã tạo nên những cú sốc trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Một thời gian dài, tri thức bản địa đã không được đánh giá đúng với những n 8 giá trị mà nó chứa đựng; thậm chí, còn bị coi là biểu hiện của sự trì trệ, lạc hậu và phản khoa học. [13] Trước thập niên 1980, nhiều nỗ lực nhằm loại bỏ các tri thức bản địa đã được áp dụng trên cả nước. Ngày nay, giá trị và vai trò của tri thức bản địa đã được nhận thức/đánh giá lại.
Tại nhiều khu vực, tri thức bản địa đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề của địa phương. [13] Cũng như tất cả các tộc người khác, người dân các tộc người thiểu số MNPB có vốn kiến thức riêng trong nhiều lĩnh vực về môi trường và cuộc sống hàng ngày. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai diễn ra ngày càng mạnh mẽ và phức tạp, trước khi có sự can thiệp/hỗ trợ từ bên ngoài, người dân đã phải tìm cách tự đối phó để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng. Những sáng kiến mà họ áp dụng chủ yếu được huy động từ vốn tri thức bản địa/tri thức địa phương được đúc kết từ nhiều đời.
[9] Như một quá trình chọn lọc của tự nhiên, trải qua một thời gian lâu dài hàng trăm hoặc hàng nghìn năm hình thành nên một kho kiến thức bản địa và theo nó là những cây trồng bản địa vô cùng phong phú. Những cây trồng và vật nuôi bản địa được con người thuần hóa chọn lọc và canh tác từ thế hệ này qua thế hệ khác nhằm cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các sản phẩm khác đáp ứng nhu cầu của con người, kiến thức canh tác bản địa đã trở thành kho kiến thức quý báu của con người.