MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu là một trông những mối quan tâm lớn nhất của toàn cầu hiện nay. Theo đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng của BĐKH. Theo tình hình hiện nay thì biến đổi khí hậu ở Việt Nam đang rất rõ rệt với sự gia tang nhiệt độ lên 10C trong vòng thế kỷ qua, lượng mưa, tần suất đang có dấu hiệu thay đổi.
Mùa mưa có lượng mưa tăng cao, mùa khô lượng mưa giảm đi dần đến các sự kiện thời tiết bất thường có xu hướng tăng lên, Việt Nam phải hứng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thiên tai, lũ lụt, hạn hánhơn trước. Sự gia tăng và có tính chất bất thường hơn của thời tiết. đang tác động rất lớn đến cuộc sống của con người và các hoạt động sản xuất mà biểu hiện rõ nhất trong ngành nông nghiệp. Với điều kiện khí hậu như vậy, sản xuất nông nghiệp đang gặp khó khăn trong việc điều chỉnh cây trồng hợp lí thích nghi với môi trường để năng suất cây trồng không bị ảnh hưởng theo hướng xấu.
Ở Việt Nam, nền nông nghiệp được coi là quan trọng trong nền kinh tến quốc dân. Nông nghiệp là ngành sản xuất ra các sản phẩm trực tiếp để nuôi sống con người, đặc biệt là ngành sản xuất lương thực chiếm vị trí quan trọng tong nền kinh tế xã hội của quốc gia, là chỗ dựa cho các ngành khác phát triển và là nguồn dự trữ cho chính sách xã hội của nhà nước. Với ý nghĩa đó, sản xuất nông nghiệp cần được qua tâm trước thực trạng biến đối khí hậu hiện nay, nếu nước biển dâng 1m, khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung có nguy cơ bị ngập. c 2 Xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cũng là địa phương chịu ảnh hưởng của BĐKH, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp.
Chính vì vậy, để hiểu biết hơn về diễn biến của việc thay đổi khí hậu trên địa bàn huyện thì việc nghiên cứu tác động của BĐKH đến tình hình sản xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết. Xuất phát từ vẫn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên’’ 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá được thực trạng về những tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân trong thời gian qua.
Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm ứng phó với sự tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu được diều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. - Tìm hiểu được hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân trên địa bàn xã Văn Lăng. - Đánh giá được những tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân trên địa bàn xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái nguyên.
- Đề xuất được các giải pháp ứng phó, thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp c 3 1. Ý nghĩa của chuyên đề 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Khóa luận có thể giúp sinh viên có thể vận dụng được các kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Giúp sinh viên nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
Ý nghĩa thực tiễn - Khóa luận là cơ sở cho địa phương có những giải pháp để ứng phó những biến đổi của khí hậu. Đồng thời là cơ sở để đưa ra được kịch bản khí hậu của địa phương trong những năm tới. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Một số vấn đề cơ bản về biến đổi khí hậu 2.1 Khái niệm khí hậu, thời tiết, biến đổi khí hậu * Khá niệm khí hậu và thời tiết Khí hậu: là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó.
Ví dụ như: Trong phạm vi một tỉnh, một nước, một châu lục, hoặc trên phạm vi toàn cầu trên cơ sở một chuỗi dữ liệu dài (khoảng 30 năm trở lên). Thời tiết: là trạng thái khí quyển tại một thời điểm nhất định, được xác định bằng tổ hợp các yếu tố như: Nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ, gió, mưa. Các hiện tượng nắng, gió, mưa, mây, nóng, lạnh…thường thay đổi nhanh chóng qua từng ngày, từng tháng, từng năm. Thời tiết có thể dự báo được hàng ngày, hàng giờ, hay dài hơn đến một tuần * Khái niệm BĐKH Biến đổi khí hậu: trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.
Theo công ước chung của Liên hợp quốc (LHQ) về BĐKH, ta có thể hiểu: BĐKH là những ảnh hưởng có hại do BĐKH gây ra, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý, đến các hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội, sức khỏe và phúc lợi của con người. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu * Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm thay đổi cường độ c 5 sáng của Mặt trời, xuất hiện các điểm đen của Mặt trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của Trái đất. Với sự xuất hiện các Sunspots làm cho cường độ tia bức xạ Mặt trời chiếu xuống Trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt đất làm thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái đất. Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời cũng gây ra sự thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất làm thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái đất.
Cụ thể là từ khi tạo thành Mặt trời đến nay gần 4,5 tỉ năm, cường độ sáng của Mặt trời đã tăng lên hơn 30%. Như vậy có thể thấy khoảng thời gian khá dài như vậy thì sự thay đổi cường độ sáng Mặt trời là không ảnh hưởng lớn đến BĐKH. Núi lửa phun trào – khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kì lớn khí SO2, hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển. Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm.
Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí được phun ra bởi núi lửa, các sol khí phản chiếu lại bức xạ (năng lượng) mặt trời trở lại vào không gian vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất. Đại dương ngày nay – các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu. Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh, Thay đổi lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào trong khí quyển. Thay đổi quỹ đạo quay của trái đất – Trái đất quay quanh mặt trời với một quỹ đạo.
Trục quay có góc nghiêng 23,5°. Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay Trái đất có thể dẫn tới những thay đổi nhỏ. Tốc độ thay đổi cực kì nhỏ có thể tính đến thời gian hàng tỷ năm, vì vậy ảnh hưởng không lớn tới BĐKH. Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng góp một phần nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kì kể từ quá khứ đến c 6 hiện nay.
Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH thì nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt động của con người. * Nguyên nhân gây ra BĐKH do con hoạt động con người Đã có các nghiên cứu chuyên sâu chứng minh rằng nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên nhanh chóng hơn nửa thế kỉ qua chủ yếu là do hoạt động của con người, chẳng hạn như việc đốt các nhiên liệu hóa thạch ( than đá, dầu mỏ,.) phục vụ các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, và thay đổi mục đích sử dụng đất (thay đổi albedo bề mặt đất) bao gồm thay đổi trong nông nghiệp và nạn phá rừng. Ngoài ra, còn một số hoạt động khác như đốt sinh khối, sản phẩm sau thu hoạch. Các khám phá liên quan đến nguyên nhân gây ra BĐKH do hoạt động của con người của Ủy ban Liên Chính Phủ về BĐKH công bố qua các năm như sau: + Trong báo cáo của IPCC 1995: Cho rằng hoạt động của con người chỉ đóng góp vào 50% nguyên nhân gây ra BĐKH.
+ Trong báo cáo của IPCC 2001: Sau khi các nhà nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu khoa học thì kết quả chỉ ra rằng hoạt động của con người đóng góp vào 67% nguyên nhân gây ra BĐKH. + Trong báo cáo của IPCC 2007: Một loạt các nghiên cứu được thực hiện, kết quả chỉ ra rằng hoạt động con người đóng góp vào 90% gây ra BĐKH. + Và theo báo cáo của IPCC gần đây nhất kết luận rằng hoạt động của con người đóng góp vào 95% nguyên nhân gây ra BĐKH. Kết quả này được công bố vào năm 2013.
Ví dụ: Theo thông báo thứ 2 của Việt Nam với Công ước khung Liên Hiệp Quốc về BĐKH ( UNFCCC) thì kết quả kiểm kê khí nhà kính (KNK) năm 2000 của Việt Nam là 143 triệu tấn CO2 tương đương / năm. Trong đó c 7 nông nghiệp chiếm 45%, năng lượng chiếm 35% tổng phát thải KNK của Việt Nam. Vì Việt Nam là nước có tỉ trọng sản xuất nông nghiệp cao nên lượng phát thải KNK chiếm đến 45%. Biểu hiện của biến đổi khí hậu - Nhiệt độ tăng Trong 100 năm qua (1906 - 2005) nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,740C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm qua gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó.
Trong đó 10 năm qua (tính từ năm 2001), nhiệt độ trung bình cao hơn 0,50C so với giai đoạn 1961 – 1990. Một số hiện tượng tiêu biểu liên quan đến nhiệt độ tăng như sau: + Giai đoạn 1995 – 2006 có 11 năm (trừ 1996) được xếp vào danh sách 12 năm nhiệt độ cao nhất trong lịch sử kể từ năm 1850, nóng nhất là năm 1998 và 2005. Gần đây nhất là năm 2010 được coi là nóng nhất trong lịch sử vào tháng 6 năm 2010 được ghi nhận là tháng nóng nhất trên toàn thế giới kể từ năm 1880[12].