Chương 1 ĐẠO ĐỨC QUÂN NHÂN, VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC QUÂN NHÂN CHO HỌC VIÊN TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 2 HIỆN NAY 1. Một số vấn đề lý luận về đạo đức quân nhân và giáo dục đạo đức quân nhân cho học viên Trường Sĩ quan Lục quân 2 1. Khái niệm đạo đức Đạo đức là một lĩnh vực của đời sống xã hội, xuất hiện, tồn tại cùng với quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người. Đạo đức xuất hiện với vai trò là sự phản ánh tồn tại xã hội và là một phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người với nhau và với xã hội.
Gắn với tồn tại xã hội, nên mỗi một giai đoạn lịch sử, mỗi một quốc gia dân tộc trong tiến trình phát triển đều có những quan điểm khác nhau về đạo đức. Ở phương Đông, tư tưởng của người Trung Quốc cổ đại quan niệm: Đạo là đường đi, đường sống của con người. Đức là chỉ lòng nhân đức, những đức tính cần thiết, cần có của con người, đức là biểu hiện của đạo. Theo đó, đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, những yêu cầu mà cuộc sống đặt ra, đòi hỏi mỗi người cần phải thực hiện trong quan hệ ứng xử, giao tiếp hằng ngày.
Trong tư tưởng Nho gia, đạo đức chính là việc đề ra và thực hiện học thuyết Nhân - Lễ - Chính danh: Nhân là yêu người, đạo làm người, là gốc của đạo đức con người, Lễ là hình thức biểu hiện của “nhân”, là những phong tục, tập quán, những quy tắc trật tự xã hội, là cách ứng xử giữa người với người, Chính danh là con đường để đạt tới “nhân”, là cách thức ổn định xã hội; trong Đạo gia, đạo đức là “kiêm ái” là yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Ở phương Tây, thuật ngữ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, moralis nghĩa là lề thói, đạo nghĩa; hoặc từ tiếng Hy Lạp ethicos là lề thói, tập tục. Do đó, đạo đức là những lề thói, tập tục của xã hội, biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trong giao tiếp, ứng xử với nhau hằng ngày. Chẳng hạn: Đêmôcrít một tư tưởng thời kỳ cổ đại quan niệm, đạo đức là hướng tới cuộc sống, hành vi, số phận 9 n của mỗi cá nhân, là lương tâm trong sáng, là sự lành mạnh về tinh thần của con người và ông yêu cầu “mỗi người phải sống đúng mực, ôn hòa, không vô độ mà gây hại cho người khác”; Arixtốt cho rằng, đạo đức được thể hiện ở hành động, hoạt động “con người chỉ biểu hiện phẩm hạnh của mình thông qua hoạt động” và giá trị đạo đức nằm ở sự công bằng, bình đẳng.
Như vậy, có thể thấy rằng tất cả các quan điểm về đạo đức trước Mác, dù ít dù nhiều cũng đã chỉ ra được các nguyên tắc, quy tắc đạo đức tham gia vào quá trình điều chỉnh hành vi và cách ứng xử giữa con người với nhau. Tuy nhiên, có thể do hạn chế về lập trường giai cấp và thế giới quan nên tất cả các quan điểm trước Mác về đạo đức mới chỉ dừng lại ở cấp độ hoặc sơ khai, cảm tính, hoặc chỉ đề cập một khía cạnh của vấn đề mà chưa đi sâu lý giải được vấn đề nguồn gốc và bản chất của quá trình hình thành và phát triển đạo đức trong lịch sử. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở nghiên cứu đạo đức từ những con người hiện thực, thực tiễn với các quan hệ xã hội phong phú, đa dạng đã luận giải: “Xét đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế, xã hội lúc bấy giờ” [28, tr 136]. Cùng với đó, các ông đã chứng minh rằng; ngay từ xã hội cộng sản nguyên thủy để săn bắt, hái lượm, kiếm sống, chống chọi với thú dữ, với sự tàn khốc của thiên nhiên,… đòi hỏi con người phải có sự hợp tác với nhau hàng ngày.
Từ đó, làm nãy sinh nhu cầu tự nguyện, tự giác, bình đẳng, đoàn kết, công bằng trong xã hội và đây chính là những biểu hiện đầu tiên của giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức trong hình thức phát triển của nó. Khi sản xuất vật chất không ngừng phát triển, xã hội chuyển sang hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, các mối quan hệ giữa người với người trong xã hội cũng trở nên đa dạng, phong phú hơn kéo theo đó là những chuẩn mực đạo đức mới tương ứng cũng được nãy sinh. Điều này để khẳng định rằng; những tư tưởng, tình cảm, những phong tục, tập quán, chuẩn mực của đạo đức đều được nãy sinh từ những sinh hoạt và điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Nên, đạo đức chính là một hình thái ý thức xã hội mang tính thời đại, tính giai cấp, tính dân tộc, không phải nhất thành, bất biến, vĩnh viễn như lý thuyết của một số 10 n nhà đạo đức trước kia đề ra.
Giá trị đạo đức được xác định ở chỗ, nó phục vụ cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người. Tiếp tục tư tưởng của C.Ăngghen, trong quá trình đấu tranh chống lại các học thuyết đạo đức duy tâm, phản động đang đầu độc giai cấp công nhân, nhân dân lao động và thực tiễn nước Nga-Xô viết lúc bấy giờ V.Lênin đã chỉ ra: Đạo đức đó là sự phản ánh đời sống thực tiễn của xã hội tương ứng với từng giai đoạn lịch sử khác nhau và đó là một phương thức cơ bản để điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng mệnh lệnh của lương tâm, nghĩa vụ đạo đức trên tinh thần tự nguyện, tự giác và vai trò của sức mạnh xã hội để điều chỉnh ý thức và hành vi của các thành viên trong cộng đồng, xã hội. Từ cách xem xét đó, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra quan niệm đúng đắn về đạo đức: Đạo đức là toàn bộ những quan niệm, tình cảm, nguyên tắc, chuẩn mực, những quan hệ và hành vi ứng xử của con người với nhau và với xã hội một cách tự nguyện theo lương tâm mỗi người. Ngày nay, trong bối cảnh xã hội luôn vận động, phát triển, các quan niệm về đạo đức cũng được nghiên cứu dưới các góc độ để phản ánh kịp đời sống xã hội.
Trong từ điển Tiếng Việt: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội” [46, tr 290]. Từ các cơ sở lý luận trên, đứng trên quan niệm duy vật biện chứng nghiên cứu về đạo đức, tác giả cho rằng: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội. Đó là hệ thống những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội để điều chỉnh hành vi giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người với tự nhiên phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của họ và sự tiến bộ của xã hội. Khái niệm đạo đức quân nhân Đạo đức quân nhân quân đội là một bộ phận hữu cơ của đạo đức mới - đạo đức cộng sản, là biểu hiện sinh động của đạo đức cộng sản trong lĩnh vực quân sự, được hình thành và phát triển từ đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, trên cơ sở kế thừa tinh hoa của đạo đức dân tộc.Ăngghen quan niệm: đạo đức cộng sản là nền đạo đức “đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích tương lai, tức là đạo đức vô sản, là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài” [26, tr.
Có nghĩa đây là nền đạo đức của giai cấp vô sản cách mạng, phản ánh những lợi ích căn bản của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hạnh phúc chân chính cho con người.Lênin đạo đức cộng sản: “Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới”[24, tr. Đây là một quan niệm mang tính cách mạng và khoa học về đạo đức mà quan niệm của các tôn giáo và các nền đạo đức khác không thể đạt tới. Từ đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: “Đạo đức cộng sản là hình thái đạo đức cao nhất của nhân loại phản ánh và khẳng định lợi ích căn bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bằng hệ thống các nguyên tắc, giá trị, chuẩn mực để điều chỉnh các quan hệ xã hội dưới sức mạnh của dư luận xã hội và lương tâm của mỗi người nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh cách mạng cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, hoàn thiện nhân cách của con người mới XHCN và cộng sản chủ nghĩa” [65, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà lãnh tụ của nhân dân Việt Nam đã bàn nhiều nhất đến vấn đề đạo đức cách mạng.
Đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc với thực tiễn đấu tranh và xây dựng đất nước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đạo đức cách mạng, yêu cầu người cán bộ nói chung, người lính nói riêng phải có những phẩm chất cần thiết để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng xóa bỏ chế độ xã hội cũ và xây dựng đất nước đem lại cuộc sống no ấm, hạnh phúc cho người dân. Đó là những phẩm chất: trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu cho độc lập của dân tộc tự do của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc nhân dân; phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải đoàn kết, thật thà; có tinh thần tập thể, tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản. Những phẩm chất đạo đức 12 n này không phải cái gì cao xa mà gần gũi trong việc làm cụ thể hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống, sinh hoạt, học tập trong lòng dân, trong cuộc chiến đấu bảo vệ nhân dân.
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và lý luận đạo đức nói riêng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đạo đức cách mạng là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó khác hẳn về chất so với các kiểu đạo đức cũ.